Categories
Gambaru News

Skill Graph sẽ gợi mở cách tiếp cận mới trong hoạch định nguồn nhân lực

Làm thế nào các tổ chức có thể nắm bắt cơ hội “nhảy vào” future of work khi hiểu biết của họ về yếu tố con người là rất mờ nhạt? 

Một khảo sát Xu hướng nguồn nhân lực toàn cầu năm 2020 cho thấy:

  • 53% người được hỏi tin rằng khoảng từ ½ tới toàn bộ lực lượng lao động của họ sẽ cần thay đổi kỹ năng trong vòng 3 năm, nhưng 59% người được hỏi lại không có thông tin cần thiết để hành động. 
  • Thậm chí, chỉ 17% tin rằng họ có thể dự đoán được các kỹ năng cần thiết. 

Với chênh lệch to như cái hố này, làm thế nào các tổ chức có thể đầu tư tốt nhất vào việc phát triển nguồn nhân lực? 

Tương lai công việc và sự hiểu biết về yếu tố con người
Tương lai công việc và sự hiểu biết về yếu tố con người. Ảnh: Roland Berger

Các tổ chức cần một lực lượng lao động có khả năng thích ứng và bền bỉ, nhưng nỗ lực của họ bị thách thức bởi sự thiếu rõ ràng về các kỹ năng — và khả năng — của lực lượng lao động đó.

Năm 2021, chúng tôi đã dự đoán nhiều tổ chức sẽ bắt đầu sử dụng các ứng dụng hỗ trợ biểu đồ kỹ năng (skill graph) để điều hướng sự giao thoa mới xảy ra giữa công việc và người lao động, khơi dậy sự tập trung đầu tư vào phát triển lực lượng lao động như là phương tiện chính để đạt được chiến lược nguồn nhân lực — và sau cùng là chiến lược kinh doanh.

Bản đồ tới tương lai: Skill Graph

Các tổ chức thường sử dụng các khung có cấu trúc (ví dụ: thư viện năng lực, kiến ​​trúc công việc, sơ đồ tổ chức) để phân loại người lao động và công việc. Nhưng bản chất của các khuôn khổ này — phân cấp, tuyến tính và trừu tượng — quá rời rạc với công việc và nhân viên để theo kịp thực tế. 

Ví dụ, sơ đồ tổ chức là một khung có cấu trúc được sử dụng để mô tả các mối quan hệ chính thức và hệ thống phân cấp, nhưng hiếm khi cung cấp bất kỳ điều gì có thể hành động được (actionable) về cách công việc được hoàn thành. 

Thật vậy, các tổ chức là mạng lưới phức tạp và nhiều nơi hiện sử dụng ONA (phân tích mạng tổ chức – organizational network analysis) để hình dung các mối quan hệ và luồng giao tiếp của công việc hàng ngày — thường nhằm mang lại những hiểu biết và cơ hội có giá trị.

Những đổi mới tương tự cũng đang diễn ra trong phạm vi kỹ năng và năng lực của người lao động. Các tổ chức đang chuyển từ các khuôn khổ có cấu trúc sang các bản thể luận (onology) dựa trên mạng lưới, năng động hơn, vay mượn các khái niệm lý thuyết đồ thị tương tự làm nền tảng cho ONA để hiểu rõ hơn mạng lưới quan hệ phức tạp giữa các kỹ năng, năng lực, công việc và người lao động.

Nói tới biểu đồ kỹ năng, đó là bản đồ các kỹ năng và năng lực của một cá nhân hoặc lực lượng lao động. Tùy vào việc triển khai cụ thể, một skill graph có thể bao gồm:

  • Một bản vẽ trực quan mạng lưới các kỹ năng và năng lực hiện tại
  • Mối quan hệ giữa các kỹ năng và năng lực (ví dụ, những kỹ năng và năng lực xảy ra cùng nhau, là các thành phần hoặc điều kiện tiên quyết của những kỹ năng khác, hoặc có thể kết hợp để tạo ra các kết quả nhất định)
  • Mối quan hệ của các kỹ năng và năng lực với công việc, vai trò, nhân khẩu học, xu hướng bên ngoài (ví dụ: hệ sinh thái, ngành, kinh tế) và kết quả công việc
  • Mối quan hệ của kỹ năng với biểu đồ xã hội (như các động vật xã hội, con người sử dụng các kỹ năng và năng lực về mặt xã hội)
  • Xu hướng thay đổi theo thời gian

Skill Graph đơn giản

Skill Graph có thể được dùng để biểu diễn mối quan hệ giữa các kỹ năng

Skill graph đơn giản
Skill graph đơn giản

Làm nổi bật các kỹ năng của 1 công việc nhất định (như nhân viên chuyển phát bằng xe đạp) và các điểm giao thoa tiềm năng với các công việc và vai trò khác.

Skill graph của 1 Bike Courier
Skill graph của 1 Bike Courier. Nguồn: Deloitte Consulting LLP, 2020
Skill graph của 1 Backend Developer, trình độ Middle
Skill graph của 1 Backend Developer, trình độ Middle. Click xem Skill graph
Skill graph của 1 DevOps Engineer trình độ Senior
Skill graph của 1 DevOps Engineer trình độ Senior. Click xem Skill graph

Các ứng dụng hỗ trợ đồ thị kỹ năng (sử dụng máy học và AI) là một bước nhảy vọt so với các phương pháp lưu giữ kỹ năng và năng lực trước đây. Các ứng dụng này sẽ:

  • Phân tích các tập dữ liệu khác nhau từ hệ thống nhân sự hoặc công việc nội bộ và các nguồn bên ngoài (ví dụ: dữ liệu kinh tế, bảng công việc, dữ liệu ngành)
  • Khám phá thông tin độc lập với đầu vào của nhân viên, bao gồm cả việc hiểu dữ liệu phi cấu trúc
  • Xác định các kết nối ẩn (ví dụ: suy ra sự hiện diện của một kỹ năng dựa trên sự hiện diện của những kỹ năng khác)

Phát triển lực lượng lao động tập trung vào tương lai

Việc trực quan hoá sự tương tác năng động giữa công việc và người lao động có thể cung cấp hỗ trợ cần thiết cho các nỗ lực hoạch định nguồn nhân lực mang tính chiến lược. 

Việc nhận diện các hình mẫu kỹ năng có thể giúp hướng dẫn các khoản đầu tư quan trọng. Hấp dẫn hơn nữa, những hình mẫu này có thể được sử dụng để báo hiệu những thay đổi tương lai trong chính công việc, thông tin thêm cho việc tiếp cận the furture of work của tổ chức.

Ví dụ: một công ty khai thác khoáng sản toàn cầu đang sử dụng nền tảng hỗ trợ skill graph và các công cụ liên quan khác để thu thập dữ liệu từ chính công việc và xác định kỹ năng của người lao động.

Đối với một số kỹ năng, những nhân viên có bộ kỹ năng tương tự được yêu cầu xác minh trình độ của các đồng nghiệp của họ.

Công ty sử dụng các công cụ này để cảm nhận những thay đổi trong các kỹ năng cần thiết, thông tin thêm cho các khoản đầu tư phát triển nguồn nhân lực và hướng dẫn lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân nhân viên.

Nhìn về phía trước

Các tổ chức có thể bắt đầu bằng cách xem xét cách tiếp cận tổng thể của họ đối với các kỹ năng và năng lực như một phần trong kiến ​​trúc lực lượng lao động. 

  • Làm thế nào để cả tổ chức và cá nhân hiểu được họ hiện có những kỹ năng và năng lực nào và họ sẽ cần gì trong tương lai? 
  • Và họ nên đầu tư vào đâu để giúp đạt được những mục tiêu đó? 

Các tổ chức nên tìm hiểu xem các ứng dụng hỗ trợ skill graph có thể đưa ra câu trả lời hữu ích cho những câu hỏi này như thế nào. 

Để bắt đầu:

Tuyển chọn các nguồn lực phát triển sự nghiệp

Dữ liệu skill graph có thể cung cấp các đề xuất có tính  theo quy định, được cá nhân hóa hơn cho từng nhân viên, bao gồm nêu bật nội dung hoặc kinh nghiệm phát triển được nhắm mục tiêu hoặc các cơ hội nghề nghiệp được đề xuất.

Thiết lập thị trường cơ hội thị trường tài năng

Các tổ chức có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hành trình phát triển và tính linh động của lực lượng lao động nội bộ bằng biểu đồ kỹ năng. Biểu đồ kỹ năng là trọng tâm của một số giải pháp trên thị trường tài năng.

Những công cụ này có thể kết hợp các kỹ năng và sở thích với các cơ hội và giúp các cá nhân hiểu rõ hơn về điểm mạnh hiện tại và con đường khả thi để đạt được nguyện vọng tương lai.

Tái hình dung việc hoạch định nguồn nhân lực

Dữ liệu skill graph có thể giúp các nhà lãnh đạo nhận ra các xu hướng trong việc thay đổi nhu cầu nguồn nhân lực.

Việc kết hợp dữ liệu kỹ năng với phân tích nhu cầu truyền thống có thể mang lại mức độ hiểu biết sâu hơn về cách thức hoàn thành công việc — và cách nó có thể được thực hiện trong tương lai.

KẾT

Skill Graph có thể thay đổi quan điểm của việc hoạch định nguồn nhân lực — sử dụng các nguồn dữ liệu khác nhau về công việc và lực lượng lao động để xác định tương lai tiềm năng và dẫn dắt sự hài hòa liên tục giữa chúng với nhau.

Từ David Mallon

Categories
Gambaru News

Educapital muốn gây quỹ $160 triệu tập trung vào edtech và future of work

Công ty đầu tư mạo hiểm Educapital gần đây đã thông báo rằng họ đã chạm tới lần kết thúc đầu tiên của quỹ thứ hai. Nhóm đã thu được 105 triệu đô (100 triệu euro) và hiện muốn đạt 160 triệu đô (150 triệu euro) để đầu tư vào các công ty khởi nghiệp edtech cũng như các công ty đang làm về future of work.

Marie-Christine Levet, một trong hai người đồng sáng lập của công ty với Litzie Maarek, chia sẻ luận điểm và mục tiêu đầu tư của Educapital với quỹ thứ hai này.

“Chúng tôi đã thành lập công ty cách đây 4 năm. Chúng tôi là quỹ edtech đầu tiên của Châu Âu. Trong 4 năm, chúng tôi đã đầu tư vào 20 công ty, hầu hết ở châu Âu. Chúng tôi có một phạm vi đầu tư rộng rãi từ đào tạo thời thơ ấu đến đào tạo nghề.”

Nhà sáng lập Educapital
Nhà sáng lập Educapital

Một số công ty trong danh mục đầu tư của quỹ đầu tiên của công ty bao gồm 360Learning, Labster, Preply, LiveMentor, Simundia và PowerZ.

Cho đến nay, Educapital đã tạo ra hai exit (Lalilo và AppScho), và rất nhiều công ty trong danh mục đã huy động các khoản đầu tư tiếp theo. Khoảng 40% các công ty trong danh mục đầu tư của Educapital được thành lập hoặc đồng sáng lập bởi một phụ nữ.

“Cuộc khủng hoảng COVID là một chất xúc tác – lịch sử đã tăng tốc. Chúng tôi đã tiết kiệm được từ 5 đến 10 năm”

Với quỹ thứ hai của Educapital, nhóm muốn huy động được 100 triệu euro. Nhưng mọi việc khá dễ dàng vì họ đã đạt được mục tiêu đó với lần đóng quỹ đầu tiên. Giờ đây, Educapital muốn đạt mức giới hạn quỹ là 150 triệu Euro.

“Chúng tôi nghĩ rằng đã có một sự thay đổi hoàn toàn. Thật khó hơn bao giờ hết để vạch ra ranh giới giữa công việc, trường học và đào tạo chuyên nghiệp.”

Educapital muốn đầu tư vào 20 công ty khác. Một vòng Giáo dục điển hình là bất cứ thứ gì từ 3 triệu đến 10 triệu Euro, rất có thể là ở giai đoạn Series A. Ba công ty đã huy động được từ quỹ thứ hai của Educapital – Chance, 4th Rev và Invivox.

Khi nói đến các đối tác hạn chế, nhiều người ủng hộ hiện tại của Educapital đã quyết định đầu tư vào quỹ thứ hai. Các nhà đầu tư này bao gồm Hachette Livre, Bayard, Education for the Many,… Các nhà đầu tư mới bao gồm Éditions Francis Lefebvre, Jacobs Foundation, UMR, BNP Paribas Innovation, Arkea, Matmut và những người khác.

Trong cuộc thảo luận của tôi, Marie-Christine Levet cũng nhấn mạnh rằng Educapital không phải là một quỹ giáo dục công nghệ nghiêm ngặt – bất chấp cái tên. Công ty hiện cũng muốn đầu tư vào các công ty khởi nghiệp “future of work”.

Nguồn: TechCrunch

Categories
Dev's Corner

Future of Work là gì? 14 Lý do cho thấy Future of Work đang diễn ra

Tất cả chúng ta đều đang chờ đợi future of work (tương lai công việc) sẽ xảy đến, và nó đã đến nhanh hơn dự kiến. Đại dịch vừa qua đã định hình lại hoàn toàn cách chúng ta thực hiện công việc và giao tiếp với đồng nghiệp.

Trong bài này, bạn sẽ tìm hiểu thêm về các yếu tố chính đang thúc đẩy Future of Work, cũng như học cách thích nghi với cách làm việc mới.

Remote Work ở Mỹ tăng từ 31 lên 62%
Remote Work ở Mỹ tăng từ 31 lên 62%

“Future of Work” rốt cuộc nghĩa là gì?

Ngày càng nhiều các nghiên cứu về future of work đã và đang xuất hiện trong thế giới kinh doanh. Các nhà tuyển dụng trên khắp thế giới đang cố gắng dự đoán future of work sẽ như thế nào và họ có thể thích ứng với nó ra sao.

Thị trường lao động có thể sẽ trải qua những biến đổi lớn trong những năm và thập kỷ tới.

Tuy nhiên, bất chấp sự phổ biến của chủ đề này, vẫn chưa có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về “future of work” bao gồm chính xác điều gì và những động lực phù hợp nhất là gì.

Nhìn chung, các doanh nghiệp đang cố gắng hiểu rõ hơn về sự trỗi dậy của công nghệ và toàn cầu hóa sẽ tác động như thế nào đến cách nhân viên của họ làm việc, cách thức nó sẽ định hình lại hoạt động Quản lý nguồn nhân lực và những thay đổi sẽ có tác động như thế nào đến cách hoạt động của các công ty.

Sự thay đổi cấp tốc hướng tới Future of Work

Chỉ vài tháng trước, mọi người đều bàn tán về việc future of work sẽ hoàn toàn là kỹ thuật số.

Ngày nay, kỹ thuật số là một bình thường mới đối với các tổ chức trên toàn cầu buộc phải chuyển đổi hoàn toàn và số hóa các quy trình kinh doanh của họ.

Đại dịch đã có tác động to lớn đến môi trường làm việc trực tuyến và do đó, thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh hơn hướng tới tương lai của công việc.

Hơn nữa, một số chuyên gia tin rằng thế giới việc làm sẽ không còn như trước nữa.

Virus coronavirus đã thay đổi cơ bản mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh – từ việc loại bỏ tuyến đường đi làm đến cách chúng ta tương tác và cộng tác với đồng nghiệp của mình.

Nghiên cứu từ Hiệp hội Quản lý Nguồn nhân lực (SHRM) cho thấy:

  • 71% người sử dụng lao động đang gặp khó khăn trong việc điều chỉnh theo remote work (làm việc từ xa)
  • 65% nói rằng duy trì tinh thần của nhân viên là một thách thức và hơn một phần ba đang gặp khó khăn với văn hóa công ty.
71% nhà tuyển dụng gặp khó khi điều chỉnh sang remote work
71% nhà tuyển dụng gặp khó khi điều chỉnh sang remote work

14 Xu hướng ảnh hưởng đến Future of Work

Mặc dù chúng ta không mong đợi future of work đến nhanh như vậy, nhưng việc chuyển sang làm việc từ xa và sự trỗi dậy của các không gian làm việc ảo đang buộc chúng ta phải thích ứng với những thay đổi này.

Đối với những người sử dụng lao động quyết định duy trì không gian làm việc tập trung của họ, văn phòng của tương lai sẽ được thiết kế để giữ mọi người kết nối trong khi họ ở xa nhau.

Chúng ta đang kỳ vọng chứng kiến ​​sự gia tăng của các không gian làm việc ảo để tạo điều kiện cho nhân viên đạt được thành công và duy trì mức năng suất của họ cao.

Giờ hãy xem xét một số xu hướng mới nổi đã thúc đẩy future of work diễn ra nhanh hơn dự kiến.

1. Remote work là phương thức làm việc bình thường mới

Bạn có nhớ câu nói: “Tương lai công việc là làm việc từ xa!” Thật không thể tin được khi thấy tương lai công việc thực sự trở thành bình thường mới nhanh như thế nào, phải không?

Lúc ban đầu của cuộc khủng hoảng, nhiều tổ chức nghĩ rằng họ không thể xử lý công việc từ xa vì các hoạt động Quản lý nhân tài đã hoàn toàn bị gián đoạn. Tuy nhiên, điều này không đúng vì nhiều trong số họ đang cân nhắc duy trì phương án làm việc từ xa sau đại dịch.

68% giám đốc tài chính cho biết việc chuyển đổi do khủng hoảng sang làm việc từ xa sẽ giúp công ty của họ tốt hơn về lâu dài. Hiện tại, 40% công ty cho biết họ đang có kế hoạch đẩy nhanh việc áp dụng các phương thức làm việc mới.

Ngoài ra, nhiều tổ chức hiểu rằng, với việc quay trở lại nơi làm việc, cách chúng tôi làm việc vẫn sẽ khác đáng kể so với cách đây vài tháng.

Điều quan trọng là người sử dụng lao động phải thích ứng với các hành vi mới của nhân viên và phương thức làm việc mới phù hợp nhất với nơi làm việc của họ.

2. Chuyển đổi số tăng tốc

Nhiều tổ chức sẽ nhớ năm 2020 là năm của chuyển đổi kỹ thuật số (digital transformation). Ngày nay, số hóa cả quy trình bên trong và bên ngoài là điều cần thiết để các doanh nghiệp duy trì hoạt động trơn tru nhất có thể.

Các công cụ và giải pháp phần mềm dành cho giao tiếp của nhân viên luôn đứng đầu danh sách khi nói đến việc triển khai các giải pháp kỹ thuật số mới tại nơi làm việc. Các giải pháp như vậy là cần thiết để giữ cho nhân viên được kết nối và thông báo những điều quan trọng và hơn bao giờ hết, các thông tin cập nhật thường xuyên của công ty cũng như từ chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, vì chuyển đổi kỹ thuật số chưa bao giờ là một quá trình dễ dàng, nhiều tổ chức đang vật lộn để điều chỉnh nơi làm việc của họ và nhận được sự ủng hộ của nhân viên khi áp dụng các công nghệ mới tại nơi làm việc. Vì vậy, giao tiếp đúng mực với nhân viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình này.

Chuyển đổi số trong những tổ chức có sự giao tiếp tốt giữa nhân viên có khả năng thành công gấp 3 lần
Chuyển đổi số trong những tổ chức có sự giao tiếp tốt giữa nhân viên có khả năng thành công gấp 3 lần

3. Tầm quan trọng ngày càng tăng của truyền thông nội bộ

Khi nói đến future of work, cách nhân viên giao tiếp luôn là một chủ đề quan trọng.

Điều này thậm chí còn phù hợp hơn vào thời điểm hiện tại khi chúng ta đã chuyển sang làm việc từ xa.

Các tổ chức đã nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp nội bộ trong việc giữ cho nhân viên an toàn, năng suất và có động lực để hoàn thành công việc của mình.

Do đó, các chuyên gia truyền thông nội bộ hiện được coi là một trong những đối tác kinh doanh chiến lược quan trọng nhất.

5 Cách tăng năng suất trên không gian làm việc số bằng giao tiếp nội bộ
5 Cách tăng năng suất trên không gian làm việc số bằng giao tiếp nội bộ

Khả năng cung cấp thông tin liên quan đến đúng nhân viên vào đúng thời điểm đã trở thành điều bắt buộc.

Có một cách thức thông báo cho nhân viên về các cập nhật quan trọng theo thời gian thực là một điều hoàn toàn cần thiết.

Việc đảm bảo các nhân viên có cách để duy trì kết nối với nhau dù họ đang ở đâu hiện là một trong những ưu tiên chính của người sử dụng lao động.

Tạo một nơi tập trung để nhân viên có thể truy cập tất cả các tin nhắn, thông tin liên lạc, cập nhật và tài liệu quan trọng là cách duy nhất để đảm bảo nhân viên không bao giờ bỏ lỡ các cập nhật quan trọng của công ty và không mất thời gian vào các nhiệm vụ không cần thiết.

Nhân viên mong đợi tìm thấy thông tin họ quan tâm trên các kênh truyền thông xã hội yêu thích của họ và tương tự như vậy đối với giao tiếp tại nơi làm việc.

Họ muốn thông tin tìm thấy họ, chứ không phải ngược lại. Mặc dù đây có thể được coi là cách làm việc của tương lai, nhưng đây là hiện thực!

Nhân viên trung bình mất 2.5 tiếng mỗi ngày để tìm thông tin
Nhân viên trung bình mất 2.5 tiếng mỗi ngày để tìm thông tin, tức là phí hoài 1 tuần mỗi tháng

4. Vai trò thay đổi của lãnh đạo

Trước đó, không nhiều tổ chức đã coi lãnh đạo là một chủ đề quan trọng của future of work.

Chúng tôi chủ yếu tập trung vào cách AI và công nghệ khác sẽ thay thế một số công việc của con người.

Tuy nhiên, giờ đây, chúng ta có thể thấy rằng vai trò của lãnh đạo trong việc tạo ra không gian làm việc lành mạnh là vô cùng quan trọng.

Trong vài tháng qua, chúng ta đã nghe và đọc rất nhiều về tầm quan trọng của khả năng lãnh đạo trong những thời khắc đầy thử thách.

Khi các nhà lãnh đạo đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng niềm tin ở nơi làm việc và gắn kết nhân viên với các mục tiêu kinh doanh, vai trò của họ đã trở nên cực kỳ quan trọng trong thời kỳ chưa từng có này.

85% nhân viên thấy có động lực khi được cập nhật thông tin về công ty thường xuyên
85% nhân viên thấy có động lực khi được cập nhật thông tin về công ty thường xuyên

Do đó, chúng ta mong đợi được thấy các công ty tái khẳng định sự cần thiết của sự lãnh đạo mạnh mẽ để giảm thiểu hậu quả của đại dịch và các mối đe dọa trong tương lai.

Một nhà lãnh đạo tuyệt vời, thông qua giao tiếp cởi mở, minh bạch và chân thành, có thể giúp nhân viên và các bên liên quan khác vượt qua những thời điểm chẳng hạn như khủng hoảng.

Các tổ chức đã nhận ra tầm quan trọng của giao tiếp lãnh đạo cũng đã xoay sở để thích ứng tốt hơn với tương lai công việc.

5. Sự trỗi dậy của cộng tác xã hội

Sự cộng tác xã hội giờ đây trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhân viên muốn duy trì kết nối, họ mong đợi sự minh bạch hoàn toàn.

Họ muốn có thể tham gia vào các cuộc trò chuyện hai chiều hàng ngày của công ty, họ muốn được nghe và chia sẻ những ý tưởng của riêng mình với người khác.

3 Điều mà thế hệ Millenials muốn
3 Điều mà thế hệ Millenials muốn

Hiện nay, khi chúng ta đang có khoảng cách về mặt xã hội, nhu cầu về các công cụ cộng tác xã hội tại nơi làm việc đã tăng lên đáng kể.

Sự tương tác giữa các nhân viên từ tất cả các bộ phận cần phải liền mạch, trực quan và dễ dàng. Nếu không, nhân viên của bạn có thể cảm thấy mất kết nối, bị cô lập và do đó, ít có động lực và sự gắn bó trong công việc.

6. Đào tạo lại kỹ năng và chia sẻ kiến ​​thức

Theo Forbes, các ứng dụng doanh nghiệp ngày nay có thể có độ chính xác dự đoán từ 80% trở lên. Chúng ta cần quan tâm đến 20% còn lại và bao quát cho “dặm đường cuối cùng” – quyết định thực tế.

Do đó, con người làm việc cùng với máy móc sẽ rất quan trọng, gia tăng sự đồng cảm, khả năng giải quyết vấn đề sáng tạo và khả năng phán đoán dựa trên kết quả đầu ra của AI.

Đây là lý do tại sao các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần bắt đầu phát triển các chức năng công việc và đào tạo lại nhân viên để họ chuẩn bị cho future of worki.

Tuy nhiên, một nghiên cứu cho thấy vẫn còn nhiều việc phải làm liên quan đến việc đào tạo lại kỹ năng trong các tổ chức.

53% giám đốc điều hành cấp cao nói rằng công ty của họ cung cấp các chương trình đào tạo lại kỹ năng cho người lao động.

Tuy nhiên, chỉ có 35% nhân viên cho biết các lựa chọn như vậy có sẵn trong tổ chức của họ.

Chỉ 35% nhân viên cho biết công ty họ có chương trình Reskilling
Chỉ 35% nhân viên cho biết công ty họ có chương trình Reskilling

Với những chương trình đào tạo lại kỹ năng như vậy, điều rất quan trọng là nhân viên phải có khả năng dễ dàng chia sẻ kiến ​​thức với đồng nghiệp. Kết quả là hợp tác và thành công hơn.

Nhân viên học hỏi tốt hơn từ các đồng nghiệp, những người có thể học thông qua ngữ cảnh công việc hàng ngày.

7. Sự tập trung của các kênh truyền thông

Giao tiếp kinh doanh đã phát triển vượt bậc trong vài năm qua. Các công nghệ mới đã được giới thiệu và chúng đã hoàn toàn cách mạng hóa giao tiếp kinh doanh.

Nhắn tin tức thì, ứng dụng trò chuyện, phần mềm hội nghị video, mạng nội bộ, chia sẻ tài liệu và những thứ khác đã xuất hiện, giúp cho việc giao tiếp trở nên nhanh chóng và hiệu quả.

Tuy nhiên, mặc dù công nghệ đã thúc đẩy giao tiếp kinh doanh một cách hiệu quả, nó cũng đi cùng với những thách thức riêng.

Mặc dù những hình thức giao tiếp hiện đại có thể nâng cao hiệu quả, nhưng hệ sinh thái giao tiếp tại nơi làm việc đang trở nên phức tạp đến mức có thể trở nên phản tác dụng.

Có quá nhiều các kênh giao tiếp khác nhau có thể gây ra sự nhầm lẫn giữa nhân viên và làm giảm năng suất của họ vì họ đang sử dụng nhiều ứng dụng giao tiếp khác nhau.

Điều này thúc đẩy nhu cầu về một phương tiện liên lạc tập trung và hợp lý hơn. Nhà tuyển dụng nên chọn các giải pháp phần mềm liên lạc nội bộ hợp nhất các kênh liên lạc khác nhau.

8. Không gian làm việc thân thiện với thiết bị di động

Lấy ví dụ, ngành bán lẻ và chăm sóc sức khỏe.

Vào thời điểm bắt đầu đại dịch, người sử dụng lao động trong những ngành đó không thể thông báo ngay lập tức cho nhân viên làm việc từ xa của họ về những tin tức quan trọng và cập nhật của công ty, biết rằng sức khỏe của nhân viên của họ đang gặp nguy hiểm.

Vì lý do đó, việc tạo ra những nơi làm việc thân thiện với thiết bị di động không được coi là future of work nữa, nó là present of work (hiện tại của công việc). Nó là bình thường mới.

Ngày nay, hầu hết các tổ chức, đặc biệt là những tổ chức có nhân viên làm việc từ xa, biết rằng hỗ trợ nơi làm việc thân thiện với thiết bị di động là cách duy nhất để đảm bảo an toàn và năng suất cho nhân viên của họ.

9. Tinh thần và sức khỏe của nhân viên được đặt lên hàng đầu

Theo nghiên cứu của SHRM, trên thang điểm “không bao giờ”, “hiếm khi”, “thỉnh thoảng” và “thường xuyên”, gần một phần tư nhân viên cho biết họ “thường xuyên” cảm thấy thất vọng, chán nản hoặc tuyệt vọng.

Vì những kết quả này đang khiến các nhà tuyển dụng trên toàn thế giới lo lắng, các chủ đề xung quanh tinh thần và sức khỏe của nhân viên hiện đã vượt qua những chủ đề liên quan đến động lực, sự gắn bó và năng suất.

Hơn nữa, gần một nửa số người lao động nói rằng nơi làm việc của họ có tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần tổng thể.

Do dịch bệnh mà chúng ta đang trải qua, các tổ chức đang cố gắng tìm cách để giới thiệu các sáng kiến ​​về phúc lợi cho nhân viên mới tại nơi làm việc.

Xu hướng này là điều mà không nhiều người mong đợi trở thành một trong những xu hướng future of work quan trọng nhất.

10. Ý nghĩa công việc

Một nghiên cứu của PwC cho thấy 79% các nhà lãnh đạo nghĩ rằng mục đích là trọng tâm của sự thành công trong kinh doanh và Gallup phát hiện ra rằng 41% nhân viên muốn biết công ty đại diện cho điều gì.

41% nhân viên muốn biết công ty đại diện cho điều gì
41% nhân viên muốn biết công ty đại diện cho điều gì

Nhân viên được thúc đẩy bởi ý thức về mục đích chung, nghĩa là họ cần có ý thức mạnh mẽ về phần của mình trong “bức tranh lớn hơn” để mang lại kết quả tốt nhất cho nơi làm việc.

Nhân viên muốn trở thành một phần của một cái gì đó lớn hơn. Họ muốn đóng góp cho thế giới và là những người đang thay đổi nó.

Điều này đặc biệt đúng đối với những nhân viên thuộc thế hệ GenZ, những người mà ý nghĩa của công việc là hàng đầu trong sự nghiệp và lựa chọn công việc của họ.

Tuy nhiên, thật đáng buồn khi thấy rằng nhiều nhân viên vẫn không biết tổ chức của họ đại diện cho điều gì và họ không hiểu công việc của chính họ đóng góp như thế nào vào sự thành công của công ty.

Nhiều người trong số họ không nhận thức được các hành động trách nhiệm xã hội và doanh nghiệp khác nhau mà tổ chức của họ thực hiện.

Điều này cần phải thay đổi và ở đây vai trò của lãnh đạo và truyền thông nội bộ là rất quan trọng. Họ là những người nên liên tục nhắc nhở nhân viên về những sáng kiến ​​có ý nghĩa của công ty cũng như về tầm quan trọng của những đóng góp của nhân viên.

11. Kỹ năng cứng so với kỹ năng mềm

Theo ước tính của McKinsey, chỉ có 5% công việc có thể được tự động hóa hoàn toàn bằng công nghệ.

Do đó, người ta tin rằng, trong tương lai, người lao động sẽ dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động mà máy móc không có khả năng thực hiện, chẳng hạn như quản lý con người, áp dụng kiến ​​thức chuyên môn và giao tiếp với người khác.

Nhờ công nghệ, con người sẽ dành ít thời gian hơn cho các hoạt động vật lý, lặp đi lặp lại và có thể dự đoán được cũng như thu thập và xử lý dữ liệu.

Đây là lý do tại sao chúng tôi đã nhận thấy một sự thay đổi lớn về nhu cầu về các kỹ năng con người khác nhau.

Các kỹ năng xã hội và tình cảm cũng như khả năng nhận thức nâng cao hơn, chẳng hạn như suy luận logic và sáng tạo đang được yêu cầu nhiều hơn bao giờ hết.

91% nhân viên cho biết lãnh đạo của họ thiếu kỹ năng truyền đạt
91% nhân viên cho biết lãnh đạo của họ thiếu kỹ năng truyền đạt

12. Tự kinh doanh và kinh tế gig hay sự an toàn công việc

Tất cả chúng ta đều biết rằng sự phát triển của nền kinh tế gig đã kéo theo sự gia tăng của trào lưu tự kinh doanh (self-employment), điều này đã và đang định hình lại future of work.

Chúng ta đang ở năm 2022. Vậy tình hình hiện tại là gì?

Công việc được thực hiện bởi những người lao động độc lập hầu như có liên quan đến sự an toàn công việc thấp đáng kể cũng như khả năng linh hoạt cao cho phép người lao động kiểm soát sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của họ.

Chúng ta đang thấy gì hôm nay? Các nhà tuyển dụng đang giới thiệu các điều kiện làm việc linh hoạt hơn nhiều, và an toàn việc làm đang trở thành một trong những đặc điểm lớn nhất mà nhà tuyển dụng có thể cung cấp. Vì vậy, hãy xem nền kinh tế gig tiếp tục phát triển như thế nào.

13. Quản lý thay đổi liên tục, linh hoạt (agile) và đổi mới

Các cuộc khủng hoảng như COVID-19 đòi hỏi các công ty phải nhanh nhẹn và sáng tạo hơn để có thể nhanh chóng thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc.

Chúng ta từng nói rằng future of work sẽ linh hoạt hơn rất nhiều. Đúng là thế.

Không thể thích ứng với sự thay đổi và đưa ra quyết định nhanh chóng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất của tổ chức và nhân viên.

Hơn nữa, để linh hoạt hơn, nhiều nhà tuyển dụng cũng đã bắt đầu trao quyền nhiều hơn cho nhân viên của họ với hy vọng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.

Lý do thất bại của những thay đổi mang tính tổ chức
91% nhân viên cho biết lãnh đạo của họ thiếu kỹ năng truyền đạt

Để linh hoạt hơn, các tổ chức cần phải suy nghĩ lại về truyền thông nội bộ và thay đổi các chiến lược quản lý.

Việc trở thành một tổ chức linh hoạt không thể xảy ra trong các công ty có cấu trúc bậc thang, thông tin sai lệch hoặc thiếu liên lạc nội bộ, cũng như trong các tổ chức không biết cách thúc đẩy thay đổi.

14. Hoạt động xã hội của nhân viên gia tăng

Ngày nay, mọi người không muốn im lặng mà muốn chia sẻ tiếng nói của mình.

Vì lý do đó, chúng ta có thể thấy xu hướng hoạt động xã hội ngày càng tăng của nhân viên, nơi các nhân viên hiện đang cùng nhau biểu tình và phản đối công ty dựa trên các giá trị chính trị và xã hội của họ.

38% nhân viên cho biết họ đã lên tiếng ủng hộ hoặc chỉ trích hành động của người sử dụng lao động về một vấn đề gây tranh cãi ảnh hưởng đến xã hội.

Vậy, các tổ chức có thể làm gì?

Người sử dụng lao động cần hiểu rằng các nhà hoạt động xã hội cực kỳ ồn ào và họ có khả năng làm tổn thương nghiêm trọng hoặc nâng cao danh tiếng của tổ chức.

Các tổ chức cần liên tục nỗ lực xây dựng lòng tin ở nơi làm việc, tăng tính minh bạch, khuyến khích nhân viên sống theo các giá trị cốt lõi của công ty và tất nhiên, điều chỉnh các nỗ lực giao tiếp bên trong và bên ngoài.

Khi bạn làm điều này, bạn sẽ có nhiều nhà hoạt động ủng hộ, họ có thể trở thành đại sứ thương hiệu có giá trị nhất của bạn.

Làm thế nào để chuẩn bị cho Future of Work?

Không có câu trả lời đơn giản nào cho câu hỏi này cả. Nếu có, mọi người sẽ làm theo cùng một công thức và thành công. Điều mà các tổ chức cần hiểu và không bao giờ được lơ là, đó là future of work đã ở ngay đây.

Điều quan trọng nhất mà các nhà tuyển dụng cần nhớ là việc tạo ra và hình thành trải nghiệm tích cực cho nhân viên đang trở thành điều bắt buộc.

Các tổ chức cần tìm cách thích ứng với nhu cầu và mong muốn của nhân viên vì nhân viên là người lựa chọn người sử dụng lao động của họ.

Khi tạo ra một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm như vậy, hãy ghi nhớ:

  • Tạo văn hóa minh bạch và giao tiếp cởi mở
  • Làm cho công việc có ý nghĩa hơn đối với nhân viên
  • Tạo điều kiện cho nhân viên thành công, phát triển và thăng tiến sự nghiệp
  • Triển khai các công nghệ cho phép nhân viên duy trì kết nối và làm việc hiệu quả
  • Có kế hoạch đào tạo lại kỹ năng và chia sẻ kiến ​​thức trong tổ chức
  • Khuyến khích các nhà lãnh đạo xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với đội nhóm
  • Tập trung vào sức khỏe nhân viên
  • Tạo môi trường làm việc linh hoạt

Nguồn: Haiilo

Categories
Gambaru News

Trong tương lai, các công ty sẽ lên metaverse mở văn phòng

Mức độ quan tâm với từ khóa “metaverse” trên công cụ tìm kiếm Google đã giảm mạnh. Tuy nhiên, mặc cho làn sóng có thể đang suy yếu, có vẻ như các công ty vẫn đang rất muốn nhúng chân vào thế giới ảo.

Mở văn phòng ảo trên Metaverse

Trong future of work: các công ty sẽ dựng văn phòng trên metaverse
Trong future of work: các công ty sẽ dựng văn phòng trên metaverse

Chỉ trong tháng 3, các công ty đã khởi động hoặc tiết lộ kế hoạch xây dựng các văn phòng metaverse sẽ được sử dụng cho các cuộc họp trực tuyến với khách hàng quốc tế, các trung tâm đổi mới dành cho nội bộ và tăng cường giao tiếp với người dùng.

Mặc dù chúng ta chỉ đang nhìn thấy những phiên bản non trẻ của nó, nhưng các văn phòng metaverse sẽ cho ta một cái nhìn về công việc trong tương lai. 

Hãy xem một số công ty gần đây đã tham gia metaverse như thế nào.

Công ty sự kiện Atom lập văn phòng metaverse

Atom, một công ty tổ chức sự kiện có trụ sở tại Mumbai, gần đây đã thành lập văn phòng metaverse của mình. Công ty đã mua không gian kỹ thuật số ở Decentraland và đang có kế hoạch sử dụng văn phòng ảo như phương thức mới để tiếp cận với các khách hàng quốc tế của mình. Công ty có kế hoạch sử dụng nó cho các sự kiện metaverse trong tương lai.

Yash Kulshreshtha, giám đốc sáng tạo của Atom, cho biết động thái này nhằm mở rộng hoạt động toàn cầu của công ty và phục vụ cho các thế hệ trẻ. Kulshreshtha nói: “Thế hệ trẻ lớn lên ngày nay sẽ thấy điều đó hoàn toàn tự nhiên”.

Sàn KuCoin ra mắt KuCoin Meta Office

Sàn giao dịch tài sản kỹ thuật số KuCoin đã ra mắt văn phòng trên Không gian kỹ thuật số Bloktopia. Trong một thông cáo báo chí, nền tảng này đã tiết lộ về Meta KuCoin Office. Văn phòng là để cung cấp trải nghiệm đa dạng phong phú cho khách truy cập cũng như khả năng tiếp cận với truyền thông MXH có tính tương tác.

Giám đốc điều hành KuCoin, Johnny Lyu, nói rằng cột mốc này giúp mọi người thích nghi với metaverse và blockchain. Lyu cho biết: “KuCoin đang hình dung ra các kịch bản để ứng dụng công nghệ metaverse và blockchain.”

Bjarke Ingels thiết kế văn phòng ảo đầu tiên

Công ty kiến ​​trúc nổi tiếng Bjarke Ingels Group đã làm việc với công ty sáng tạo Virtue Futures của Vice Media để thiết kế văn phòng metaverse mới đặt tại Decentraland. Được mệnh danh là “văn phòng Viceverse”, không gian kỹ thuật số sẽ là cổng kết nối cho các nhân viên của Vice Media Group.

Trong một cuộc phỏng vấn, giám đốc điều hành Virtue Futures Morten Grubak đã mô tả văn phòng này như một “sân chơi thử nghiệm”. Theo Grubak, văn phòng sẽ cho phép các đội nhóm thử nghiệm những thứ như NFT, DAO (tổ chức tự trị phi tập trung) và Web3.

SCB 10x có kế hoạch ra mắt văn phòng trên The Sandbox

SCB 10x, chi nhánh liên doanh của Ngân hàng Thương mại Siam, đã tiết lộ kế hoạch khai trương văn phòng ảo đặt trên The Sandbox. Theo thông báo, văn phòng sẽ được khai trương vào cuối năm 2022 và sẽ được sử dụng để kết nối với cộng đồng các nhà xây dựng toàn cầu.

Ngoài việc kết nối với cộng đồng, văn phòng kỹ thuật số sẽ cho phép khách tham dự các sự kiện, tham gia các buổi trình diễn sản phẩm và tham quan các môi trường được chế tác độc đáo.

Tham khảo: Cointelegraph

Categories
Dev's Corner

DAO sẽ thay đổi tương lai công việc (Future of work)

Trong tương lai, có khả năng một người bình thường sẽ không làm việc cho một công ty. Thay vào đó, họ sẽ kiếm thu nhập theo những cách phi truyền thống, thông qua các hoạt động như chơi game, học kỹ năng mới, sáng tạo nghệ thuật hoặc quản lý nội dung.

Tương lai công việc sẽ ra sao (future of work)?

Sự thay đổi cách làm việc này không phải là điều bất thường hay bất ngờ – thực ra, việc tuyển dụng vào các tập đoàn lớn từng là ý tưởng điên rồ với một người nào đó vào những năm 1800.

Tương lai công việc (Future of work) được mở ra nhờ các mạng lưới hình thành xung quanh các giao thức tiền điện tử, đang nổi lên như những phương thức mới để điều phối, đo lường và khen thưởng cho việc đóng góp vào các hệ sinh thái phức tạp.

Sự thay đổi này đã mở ra tiềm năng thu nhập mới cho mỗi người và nó đưa tới sự chuyển giao giá trị ngày càng tăng từ các tổ chức sang người tham gia với tư cách cá nhân trong mạng tiền điện tử.

Cách kiếm tiền truyền thống là “làm-để-kiếm” (work to earn), nhưng tương lai của thu nhập là “x-để-kiếm” – chơi để kiếm, học để kiếm, sáng tạo để kiếm và làm việc để kiếm.

Tuy nhiên, điều đó sẽ không xảy ra một cách thần kỳ – nó yêu cầu các Tổ chức tự trị phi tập trung – DAO (Decentralized Autonomous Organization) có thể điều phối toàn bộ hoạt động mới này vượt ra ngoài bối cảnh các hệ thống công ty. Và các cơ hội kiếm tiền trong DAO sẽ là một hàm số của nhiều hình thức đóng góp khác nhau mà DAO cần.

Bài viết này cung cấp một khuôn khổ giúp bạn hiểu các lựa chọn sẽ tồn tại trong Future of work.

Hạn chế của các công ty ở vai trò cơ chế điều phối

Trước tiên, chúng ta cần hiểu về những thiếu sót của các mô hình kiếm tiền hiện có.

Các công việc truyền thống đang nhanh chóng trở nên lỗi thời – chúng ta đã thấy điều này khi các hình thức kiếm tiền thay thế dần xuất hiện như người ảnh hưởng (influencer), nhà thầu, người sáng tạo, người tham gia nền kinh tế gig,…

Những cách kiếm tiền này không hẳn mang lại cảm giác giống như “làm việc”, nhưng chúng đều là những ví dụ về người tham gia với tư cách là nhà cung cấp giá trị trong một mạng lưới phức tạp và kiếm thu nhập từ những đóng góp của họ.

Tuy nhiên, các cơ hội “phi truyền thống” này có số lượng hạn chế và phần thưởng thường thấp hơn giá trị đóng góp của một người.

Đó là bởi vì những công việc này vẫn dựa trên mô hình web2, trong đó các tập đoàn tiếp tục kiểm soát mô hình kinh doanh.

Các tập đoàn truyền thống ngày càng có nhiều “orbital stakeholder”, tức là những người tham gia đang làm mờ ranh giới giữa các thành viên bên trong và những người bên ngoài tổ chức.

Hãy hình dung Apple và các nhà phát triển tạo ứng dụng trên App Store, YouTube và người sáng tạo nội dung hoặc Uber và các tài xế – những người tham gia từ bên ngoài đang đóng góp vào lợi nhuận của công ty, nhưng các công ty đang gặp khó khăn trong việc điều chỉnh các ưu đãi (lợi ích) với các bên liên quan này.

Khi các công ty phát triển, họ không duy trì được mối quan hệ bền vững với các orbital stakeholeder này nữa.

Mối quan hệ giữa công ty và những người tham gia trở thành tổng bằng 0, và để tối đa lợi nhuận, công ty bắt đầu “trích xuất” giá trị từ những người tham gia này.

Theo Chris Dixon, đây là “lý do mà phi tập trung trở nên có ý nghĩa”:

Mối quan hệ giữa platform với các yếu tố bổ sung
Mối quan hệ giữa platform với các yếu tố bổ sung

Mô hình công ty có ranh giới chặt chẽ giữa nội bộ và bên ngoài có thể có ý nghĩa trong Thời đại công nghiệp, nhưng trong Thời đại thông tin, mô hình này đưa đến các động lực bị lệch và sự khai thác không bền vững.

Trong thế giới thông tin và các orbital stakeholder phức tạp, các công ty không còn phù hợp để giúp chúng ta điều phối hoạt động của mình.

Các mạng tiền điện tử (crypto network) tạo ra sự liên kết tốt hơn giữa những người tham gia và các DAO sẽ là lớp điều phối cho thế giới mới này.

Các DAO sẽ điều phối kỷ nguyên mới của Internet
Các DAO sẽ điều phối kỷ nguyên mới của Internet

DAO là một lớp điều phối mới

DAO sẽ thay thế mô hình truyền thống

DAO là một tổ chức có nguồn gốc internet với các chức năng cốt lõi được tự động hóa bởi các hợp đồng thông minh và với những việc mà tự động hóa không thể thay thế con người (ví dụ: tiếp thị, phát triển phần mềm).

Trên thực tế, không phải tất cả các DAO đều phi tập trung hoặc tự trị, vì vậy tốt nhất bạn nên nghĩ DAO là các tổ chức dựa trên internet được các thành viên sở hữu và kiểm soát tập thể.

Mặc dù vẫn còn rất sớm trong quá trình phát triển của DAO, nhưng chúng không còn là một khái niệm viễn vông.

Đó là những tổ chức có thực, quản lý hàng tỷ đô la vốn, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho hàng triệu người và tạo ra những cách thức mới để mọi người kiếm được thu nhập.

Dưới đây là một cái nhìn toàn cảnh về DAO của Cooper Turley:

Cảnh quan DAO hiện tại của Cooper Turley
Toàn cảnh DAO của Cooper Turley

DAO có nhiều dạng và quy mô khác nhau

Có DAO kiểm soát các giao thức tiền điện tử (Protocol DAO), DAO thực hiện đầu tư mạo hiểm (DAO đầu tư), DAO cung cấp dịch vụ cho các DAO khác (DAO dịch vụ), DAO mua NFT (DAO thu thập), và nhiều DAO khác nữa.

Nhưng hầu hết ở các DAO có một vài điểm chung giúp phân biệt chúng với các tổ chức truyền thống (chỉ là khái quát, lưu ý rằng chúng thay đổi tùy theo các trường hợp cụ thể):

Các hình dạng và quy mô của DAO
Các hình dạng và quy mô của DAO

Những yếu tố phân biệt các DAO với các tổ chức truyền thống là những cái cho phép DAO có mối quan hệ cộng sinh với các bên liên quan và người tham gia. DAO hoạt động như các nền kinh tế mở, khuyến khích giá trị được tích lũy ở bất cứ đâu nó được cung cấp, không dựa trên biên giới pháp lý tùy tiện.

Từ bài báo của Chris Dixon đã nói trước đó:

“Các mạng tiền điện tử (cryptonetwork) sử dụng nhiều cơ chế để đảm bảo luôn trung lập khi chúng phát triển, ngăn chặn sự dụ dỗ của các nền tảng tập trung. Thứ nhất, hợp đồng giữa mạng tiền điện tử và những người tham gia được thực thi bằng mã nguồn mở. Kế đến, họ liên tục được kiểm tra thông qua các cơ chế “voice” và “exit”. Người tham gia được đưa ra tiếng nói thông qua quản trị cộng đồng (community governance), cả “trên chuỗi” (thông qua giao thức) và “ngoài chuỗi” (thông qua các cấu trúc xã hội xung quanh giao thức). Người tham gia có thể thoát bằng cách rời khỏi mạng và bán tiền của họ hoặc trong trường hợp cực đoan bằng cách sửa đổi giao thức.”

Cấu trúc của một DAO vốn đã mở và có trách nhiệm, một chức năng ràng buộc để chia sẻ giá trị với những ai tham gia tạo ra nó. Nếu không, các DAO khác sẽ cạnh tranh với họ hoặc những người tham gia sẽ rời đi để tìm cơ hội khác.

Ownership Economy
Ownership Economy

Trên thực tế, DAO tốt nhất là DAO thưởng cho những người tham gia, đóng vai trò là nền tảng của Nền kinh tế sở hữu. Động lực có tổng-dương này là cơ sở của xu hướng x-để-kiếm mà định hình nên Future of work.

Future of work trong DAO

Để hiểu rõ hơn về các lựa chọn sẽ xuất hiện trước mọi người, chúng ta phải khám phá “cấu trúc giải phẫu” của DAO:

Cấu trúc của DAO
Cấu trúc của DAOBrian Flynn, Zakku và nhóm Orbit

DAO, với tư cách là nền kinh tế mở, sẽ thúc đẩy xu hướng x-để-kiếm, điều này sẽ làm cho công việc trở nên linh hoạt, trôi chảy và vui tươi hơn so với xu hướng 9-5 (đi làm từ 9h sáng đến 5h chiều) quen thuộc.

Sự cởi mở của nền kinh tế tiền điện tử này sẽ cho phép người ta tham gia vào một số DAO và mạng tiền điện tử, phối trộn các luồng thu nhập và lợi nhuận quyền sở hữu (hãy nhớ rằng các DAO tốt nhất đang phân phối quyền sở hữu cho người tham gia của họ thông qua native token của riêng họ).

Thu nhập của mọi người sẽ là sự kết hợp của những thứ chúng ta hiện đang làm trong cuộc sống của mình (ví dụ: chơi game), những thứ chúng ta coi là công việc truyền thống (ví dụ: tiền thưởng / hợp đồng) và những thứ hiện chỉ có thể tiếp cận được với một tỷ lệ nhỏ dân số (ví dụ: đầu tư, thu nhập thụ động).

Nói cách khác, các DAO sẽ mở rộng thêm chủng loại và số lượng cơ hội mở ra cho một số loại người tham gia, bao gồm chủ sở hữu token, thợ săn tiền thưởng và những người đóng góp nòng cốt.

Ví dụ:

  • Chủ sở hữu token có thể kiếm thu nhập từ việc nhận các khoản tài trợ cho các giao thức DeFi lớn (ví dụ: Compound), từ thu nhập thụ động trên các token khác nhau của họ và lợi nhuận từ quyền sở hữu
  • Thợ săn tiền thưởng sẽ kiếm tiền bằng cách hoàn thành các hoạt động trên chuỗi được trao thưởng
  • Người tham gia mạng lưới có thể kiếm được từ việc chơi Axie Infinity hoặc các trò “chơi để kiếm” khác.

Trong future of work, việc làm sẽ mang tính tạm thời và năng động hơn – chi phí chuyển đổi công việc sẽ thấp hơn, cơ hội sẽ xuất hiện nhiều hơn, công việc sẽ giảm xuống thành nhiều đơn vị nguyên tử hơn và toàn bộ thế giới sẽ được thống nhất dưới một lực lượng lao động duy nhất có quyền truy cập vào tất cả các cơ hội.

Chúng ta sẽ khám phá ra các cơ hội mới dựa trên lịch sử, quyền sở hữu và danh tiếng trên chuỗi của mình, đồng thời chúng ta sẽ được mời đóng góp vào nơi chúng ta có lợi thế so sánh tốt nhất.

Dưới đây là một cái nhìn sâu hơn về cách người tham gia sẽ tìm thấy cơ hội kiếm tiền thông qua DAO.

Lực lượng đóng góp nòng cốt: làm việc-để-kiếm

Lực lượng đóng góp nòng cốt là cách chúng ta thường nghĩ về nhân viên ngày nay – những người tập trung toàn thời gian vào một hoặc nhiều dự án hoặc tổ chức.

Sự tập trung này cho phép cá nhân được “nhúng’ vào dự án và tích lũy kiến ​​thức về mặt ngữ cảnh và chiến lược.

Hãy nghĩ về những nhóm người làm công ăn lương cùng làm việc với mục đích duy nhất là thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một công ty để chi trả các khoản thu nhập của họ, bao gồm hàng trăm hoặc hàng nghìn nhân viên.

Nhu cầu về những ‘công nhân’ tập trung và được ‘nhúng’ sẽ luôn tồn tại, nhưng trong web3, nhóm người này sẽ ít hơn bao giờ hết.

Phần mềm và smart contract ở một cấp độ lớn hơn, sẽ cho phép các nhóm nhỏ người tạo ra tác động vượt trội.

Instagram được Facebook mua lại với giá 1 tỷ đô la với đội ngũ chỉ 13 người.

Những trường hợp như thế này sẽ trở nên phổ biến trong tương lai khi sức mạnh của tự động hóa phần mềm, cùng với mạng lưới cộng tác viên ngày càng lớn, sẽ giữ cho số lượng thành viên của nhóm đóng góp nòng cốt nhỏ lại.

Trong tương lai, làm việc cho nhóm này sẽ không khác nhiều so với làm việc cho một công ty – các DAO sẽ vẫn có lực lượng đóng góp nòng cốt có lợi ích liên quan trực tiếp nhất đến tình hình hoạt động của tổ chức. Bởi các DAO minh bạch hơn các công ty truyền thống và có thể chịu trách nhiệm bởi một cộng đồng lớn hơn, tuy nhiên, sẽ có cả áp lực.

Thợ săn tiền thưởng: đóng góp-để-kiếm

“Thợ săn tiền thưởng” (Bounty Hunters) hoàn thành công việc được xác định rõ ràng với mức giá và / hoặc khoảng thời gian đã thỏa thuận.

Những người này thường là các chuyên gia trong các lĩnh vực như tài chính, phát triển và thiết kế, những người cung cấp dịch vụ cho nhiều DAO cùng một lúc và hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể với ranh giới rõ ràng.

Tiền thưởng thường được đăng công khai cho bất kỳ người nào yêu cầu và đôi khi có thể mang tính cạnh tranh, thưởng cho người hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất dựa trên thành tích và giá trị đóng góp, không dựa trên quy trình nộp đơn hoặc đấu thầu trước.

Phần thưởng thường được xác định bởi các ủy ban tài trợ hoặc các nhóm làm việc phi tập trung đã được DAO lớn hơn giao một số quyền hạn (một phần của xu hướng lớn hơn được gọi là Quản trị 2.0).

Nhiều Thợ săn tiền thưởng sẽ tập hợp lực lượng để thành lập các DAO Dịch vụ của riêng họ – đây là những tổ chức cung cấp dịch vụ thuê ngoài cho các DAO không có sẵn các kỹ năng cần thiết.

Các DAO Dịch vụ này nổi lên để hoàn thành các nhiệm vụ đòi hỏi kiến ​​thức chức năng như quản lý ngân quỹ (ví dụ: Llama), phát triển phần mềm (ví dụ: RaidGuild), quản trị (ví dụ: Fire Eyes),…

Mặc dù Công ty săn tiền thưởng và Dịch vụ DAO có thể giống như các nhà thầu và các công ty dịch vụ chuyên nghiệp, chúng sẽ được phân biệt và phổ biến hơn trong các DAO vì một số lý do:

  1. Hợp đồng thông minh sẽ tự động hóa một phần lớn chức năng cốt lõi của DAO, để lại nhiều công việc ngoại vi được xác định rõ ràng, chuyên biệt về mặt chức năng và nắm bắt tốt thông qua tiền thưởng.
  2. Các DAO sẽ cố gắng đẩy công việc ra các vùng ngoại vi để duy trì sự phi tập trung và tránh các hệ thống phân cấp lớn, và tiền thưởng tạo ra phương thức bền vững để làm điều đó.
  3. Sự minh bạch của DAO sẽ làm cho chi phí điều phối trên tiền thưởng thấp xuống.

Người tham gia mạng lưới: tham gia-để-kiếm

Đây là phần mới nhất và có lẽ thú vị nhất trong Future of work.

Trong bất kỳ DAO nào, đây là nơi mà phần lớn mọi người sẽ gia nhập vào.

Mạng lưới tăng thêm sức mạnh với nhiều hoạt động và người tham gia, tuy nhiên, trong nhiều năm, người dùng, người tiêu dùng và người tham gia đã tăng giá trị cho mạng mà không giữ được phần đóng góp của họ.

Ví dụ: nhà phát triển ứng dụng cho Apple, người sáng tạo cho YouTube và tài xế cho Uber.

Hoạt động giống như các nền kinh tế mở thay vì các tổ chức khép kín, các DAO sẽ thưởng cho mỗi cá nhân đóng góp dựa trên giá trị mà người đó cung cấp, bất kể nó đến từ ai.

Điều này có nghĩa là những hoạt động hàng ngày mà có giá trị đối với mạng lưới sẽ được biến thành cơ hội kiếm thu nhập.

Gần như mọi người sẽ kiếm được thu nhập từ việc đơn giản là sống trực tuyến, sử dụng sản phẩm và tham gia với tư cách là người dùng.

Đối với những người nhận được tiền “thù lao” cho việc tham gia vào mạng lưới, việc kiếm được thu nhập sẽ giống như một trò chơi.

Một số hạng mục đã bắt đầu xuất hiện trong không gian thú vị này:

Chơi-để-kiếm

Chơi-để-kiếm là một loại mô hình trò chơi mới, trao thưởng cho người chơi khi chơi và đạt được thành tích trong một trò chơi.

Mô hình trò chơi truyền thống liên quan đến việc chuyển giao giá trị một chiều cho người tạo hoặc nền tảng trò chơi, mặc dù các game chơi-để-kiếm cũng thưởng cho người dùng.

Các game chơi-để-kiếm vận hành giống như một nền kinh tế: Người chơi cung cấp sức lao động (thời gian và năng lượng của họ) và vốn (thường mua NFT để tham gia trò chơi) và được thưởng bằng token có thể đổi được (fungible token) cho thành tích và tiến bộ của họ trong trò chơi.

Kiếm tiền từ trò chơi không phải là mới, nhưng thay vì thưởng cho người chơi bằng đơn vị tiền tệ trong trò chơi, được sử dụng giới hạn trong trò chơi, thì các trò chơi-để-kiếm thưởng bằng loại token có thể đổi với các token hoặc tiền tệ khác.

Điều này nghĩa là người chơi trò chơi điện tử có thể thanh toán hóa đơn của họ thông qua thành tích trong trò chơi theo đúng nghĩa đen, đặc biệt là đối với những người ở các quốc gia có mức lương và chi phí sinh hoạt thấp hơn.

Hiện tượng này đã là một nguồn thu nhập của hàng triệu người, đặc biệt là thông qua Axie Infinity.

Axie là một trò chơi blockchain phổ biến trong đó người chơi mua NFT cho thú cưng (Axie), lai tạo chúng, chiến đấu với chúng và mua bán chúng.

Những hoạt động này xảy ra trong trò chơi, nhưng mỗi người dùng thực sự sở hữu Axies mà họ mua hoặc tạo. Trò chơi đã bùng nổ trong vài tháng qua, kiếm được hơn 200 nghìn ETH (hiện tại là 860 triệu đô la) doanh thu kết hợp vào tháng 7 và tháng 8.

Doanh thu hàng tháng của Anxie
Doanh thu hàng tháng của Anxie – Nguồn: Axie World

Sự tăng trưởng bùng nổ này được cho là do sự liền lạc về mặt động viên giữa Axie và người dùng, được Axie mô tả như sau:

Axie có nền kinh tế tiền thật do người chơi sở hữu 100%. Thay vì bán các vật phẩm hoặc bản sao của trò chơi, các nhà phát triển của trò chơi tập trung vào việc phát triển nền kinh tế giữa những người chơi và thu các khoản phí nhỏ để kiếm tiền. Axies được tạo bởi người chơi bằng cách sử dụng tài nguyên trong trò chơi (SLP & AXS) và bán cho người chơi mới / người chơi khác. Người nắm giữ token AXS là chính phủ nhận khoản thu về thuế. Các tài nguyên và vật phẩm trong trò chơi được token hóa, nghĩa là chúng có thể được bán cho bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu trên thị trường ngang hàng mở (peer to peer market).

Axie đã mở ra con đường chơi-để-kiếm và đã mở rộng tầm mắt của mọi người về xu hướng x-để-kiếm to lớn hơn, cho thấy việc mọi người có thể tạo thu nhập bằng cách đóng góp vào mạng lưới.

Học-để-kiếm

Học để kiếm tiền là một mô hình giáo dục mới, trong đó thay vì trả tiền để học, một người sẽ được thưởng khi chứng minh rằng họ đã học được điều gì đó.

Điều này có thể xảy ra khi kỹ năng, kiến ​​thức hoặc thông tin mà một người học được làm tăng thêm giá trị cho một mạng lưới và do đó mạng lưới đó sẵn sàng trợ cấp cho việc học.

Trên RabbitHole, các giao thức tiền điện tử trả tiền cho Nhiệm vụ, khuyến khích người dùng hoàn thành các hành động cụ thể trên chuỗi.

Khi người dùng hoàn thành các hành động này, họ sẽ kiếm được phần thưởng do giao thức cung cấp.

Trong khi những người săn tiền thưởng đóng góp vào việc xây dựng giao thức, thì các hành động trên chuỗi này có xu hướng là một phần của giao thức.

Tương tác tổng dương (positive-sum) mới này sẽ giúp tất cả các bên:

  • Người dùng học một kỹ năng hoặc cách mới để sử dụng tiền điện tử và kiếm được token
  • Các giao thức tiền điện tử thu hút được những người dùng mới, có hiểu biết
  • RabbitHole nhận được phần trăm doanh thu để hỗ trợ các tương tác

Mô hình mới này giống như việc Google chia sẻ một số doanh thu quảng cáo của họ để tìm hiểu về một sản phẩm mới hoặc một trường đại học trả tiền cho bạn vì bạn củng cố mạng lưới cựu sinh viên của họ.

Trong cả hai trường hợp trên, bạn đang cung cấp giá trị cho một mạng lưới và không được thưởng, nhưng bây giờ, bạn có thể làm được.

RabbitHole đã phân phối hơn 750 nghìn đô la tiền thưởng kể từ khi ra mắt, được trả bằng giao thức lớn nhất trong tiền điện tử (ví dụ: Uniswap, Aave, Compound, The Graph, Pool Together và Polygon).

Mặc dù lĩnh vực này còn non trẻ, nhưng tiềm năng đối với học-để-kiếm là rất lớn, nếu bạn xem xét doanh thu được tạo ra từ giáo dục và quảng cáo hiện chưa được người dùng nắm giữ.

Sáng tạo-để-kiếm

Tiền điện tử đã tạo ra sự giàu có mới và sự khan hiếm kỹ thuật số, điều này đã mở đường cho sự bùng nổ thị trường NFT trong vài tháng qua, mở ra cơ hội cho các nghệ sĩ trên toàn thế giới kiếm sống, hoặc thậm chí là sự giàu có của thế hệ trong một số trường hợp.

Nhưng nó không khác lắm về mặt chức năng với việc nghệ sĩ được trả tiền cho tác phẩm khi thành công.

Điều thú vị là người sáng tạo được trả tiền vì giá trị gia tăng mà họ đem lại cho mạng lưới, bên cạnh lợi nhuận kiếm được từ công việc.

Ví dụ:

  • Thị trường NFT SuperRare gần đây đã airdrop 15% token của mình cho người dùng ban đầu, nhà sưu tập và nghệ sĩ trên nền tảng của họ, để thừa nhận vai trò của những người tạo ra giá trị này đối với thành công ban đầu của họ.
  • Audius, một giao thức phi tập trung để phát trực tuyến nhạc, cho phép người sáng tạo kiếm được token khi tải nhạc lên và quản lý danh sách phát. Audius đang trao cho người sáng tạo quyền sở hữu cổ phần trong mạng do giá trị mà họ mang lại.

Chủ sở hữu token: Đầu tư-để-kiếm

Khả năng đầu tư vào các cơ hội tăng trưởng cao sẽ được dân chủ hóa cho bất kỳ ai có kết nối internet và ví điện tử.

Trong một thế giới mà mọi mạng lưới đều có token, token kiếm được khi tham gia vào các mạng và khả năng mua token là không cần cho phép, mọi người đều trở thành nhà đầu tư.

Đầu tư sẽ trở thành nguồn thu nhập chính của một bộ phận dân số.

Không phải mọi khoản đầu tư đều được đánh giá cao, nhưng các cá nhân sẽ có quyền truy cập vào các cơ hội mà trước đây chỉ dành cho thiểu số và toàn bộ cơ hội kiếm thu nhập sẽ mở ra.

Làm gì để mở đường cho DAO và Future of work?

DAO là Future of work
DAO là Future of work

Các cơ hội x-để-kiếm chỉ trở thành xu hướng chủ đạo nếu DAO trở thành xu hướng chủ đạo.

Các DAO cho thấy rất nhiều hứa hẹn, nhưng chúng vẫn còn sớm và còn một chặng đường dài để phát triển cho đến khi Future of work được hiện thực hóa.

Trong một cuộc khảo sát gần đây với 422 người tham gia DAO do Gitcoin và Bankless thực hiện, < 45% người được hỏi cho biết rằng DAO là nguồn thu nhập chính của họ.

DAO có phải là nguồn thu nhập chính?
DAO có phải là nguồn thu nhập chính?

Để các DAO thực sự trở thành trung tâm của công việc, chúng ta cần phát triển cơ sở hạ tầng, công cụ và hệ thống có thể hỗ trợ các DAO và các thành viên của họ.

Công cụ điều phối

Hầu hết các DAO hiện đang dựa vào sự kết hợp của phần mềm web2 không dành cho DAO hoặc phần mềm web3 cực kỳ non trẻ.

Trong cả hai trường hợp, nhu cầu của các DAO không được đáp ứng đầy đủ.

Các DAO có tiềm năng đáng kinh ngạc để khai thác sức mạnh của mạng phi tập trung và trí tuệ tập thể của mọi người, nhưng họ sẽ cần các công cụ phần mềm tốt hơn để điều phối.

Các DAO sẽ cần các công cụ hỗ trợ quản trị (ví dụ: Snapshot, Orca), cộng tác phần mềm (ví dụ: Radicle), quản lý ngân quỹ (ví dụ: Parcel, Multis, Gnosis), thảo luận (ví dụ: Discourse), truy cập (ví dụ: CollabLand) và hơn thế nữa .

Đặc biệt liên quan đến bài viết này, một lĩnh vực thú vị cần có các giải pháp mới là những người đóng góp.

Các DAO không có Giám đốc điều hành hoặc bộ phận nhân sự để quyết định ai sẽ được trả tiền cho việc gì, vì vậy cần có những cách thức mới, phi tập trung để xác định giá trị mà một người đóng góp và những gì họ nên được trả.

Một vài giải pháp ban đầu nhưng thú vị bao gồm việc để các đồng nghiệp xác định phần thưởng của nhau (Coordinape) và sử dụng một thuật toán để tạo biểu đồ đóng góp và tính toán phần thưởng (SourceCred).

Hệ thống danh tiếng

Các DAO là công khai và không cần sự cho phép, nhưng vẫn cần những cách mới để xác định ai có thể tin tưởng, cộng tác và khen thưởng.

Giải pháp truyền thống là thực hiện các quy trình phỏng vấn bao quát, nhưng những quy trình này lại đối lập với các đặc tính của một DAO.

Vấn đề phức tạp hơn nữa là nhiều người liên quan đến DAO là ẩn danh. Trong thế giới mới này, các DAO cần một cách mới để tìm ra ai sẽ phân bổ các nguồn lực khan hiếm.

Điều này cho thấy sự cần thiết của các hệ thống danh tiếng trên chuỗi.

Hệ thống danh tiếng trên chuỗi sẽ nắm bắt các hành động của chúng ta xảy ra trên blockchain: đóng góp của chúng ta cho DAO, lịch sử bỏ phiếu quản trị của chúng ta, việc nắm giữ token của chúng ta và hơn thế nữa.

Cuối cùng, các hệ thống danh tiếng sẽ sử dụng các hành động trên chuỗi này đưa ra dự đoán về cách chúng ta sẽ hành động trong tương lai để đưa ra quyết định xem ai là người đáng tin cậy và phù hợp.

Danh tiếng trên chuỗi sẽ thay thế cách các công ty hiện đang sử dụng thông tin đăng nhập, sơ yếu lý lịch và quy trình phỏng vấn.

Tuy nhiên, có nhiều lo ngại về quyền riêng tư và bảo mật liên quan đến việc theo dõi sổ cái công khai về các hành động gắn liền với danh tính của một người.

Hiện tại, danh tính trên blockchain (blockchain identity) chủ yếu xoay quanh địa chỉ, nhưng để các hệ thống danh tiếng này trở nên khả thi, chúng ta sẽ cần các giải pháp nhận dạng phi tập trung mạnh hơn nhiều (ví dụ: Ceramic / IDX) và quản lý danh tính.

Về việc tạo giá trị và những cạm bẫy có thể xảy ra

Không rõ là về lâu dài, con người có thể kiếm được bao nhiêu thu nhập thông qua các phương pháp này.

X-để-kiếm không có nghĩa là mọi người sẽ có thể làm nghệ thuật và chơi trò chơi điện tử để kiếm sống. X-để-kiếm là giá trị phần thưởng khi nó được tạo ra.

DAO làm cho những con đường phi truyền thống này bền vững hơn và tồn tại trước nhiều người hơn, nhưng thị trường sẽ không thưởng cho tất cả mọi người.

Các động lực thị trường vẫn liên quan và để được thưởng, bạn cần phải cung cấp giá trị.

Người sáng tạo sẽ cần tìm khán giả, người chơi trò chơi sẽ cần đạt được kết quả và những người săn tiền thưởng và những người đóng góp sẽ cần tạo ra tác động.

Tuy nhiên, cuộc tranh luận đang diễn ra xung quanh tính bền vững và tầm quan trọng của một số cơ hội kiếm tiền không làm mất đi luận điểm của bài này: tạo ra giá trị trong các mạng sẽ được thưởng và các DAO sẽ điều phối phần thưởng trong các mạng tiền điện tử giúp mở ra các cơ hội kiếm thu nhập mới.

Nói rộng hơn, Future of work sẽ không hoàn toàn tốt. Như với bất kỳ sự thay đổi công nghệ lớn nào, thường có những mặt tích cực và tiêu cực. Tiền điện tử, và cụ thể hơn là DAO, sẽ dẫn đến kết quả tương tự.

Dưới đây là một số hệ quả:

Khả năng cạnh tranh và chênh lệch

Việc đo lường và khen thưởng cho tất cả các đóng góp cho một mạng lưới sẽ dẫn đến việc phân bổ tài nguyên hợp lý hơn.

Mặt trái của chế độ tài chính xứng đáng là một thế giới trong đó các DAO thực sự gia tăng các quy luật mà các nền kinh tế web2 đã chứng minh trước đây. Ví dụ: trên Spotify, 1,4% người sáng tạo hàng đầu kiếm được 90% tiền bản quyền.

Hơn nữa, lực lượng lao động toàn cầu thực sự với chi phí chuyển đổi thấp hơn chỉ làm tăng các động lực cạnh tranh này. Người ta sẽ làm thế nào để cân đối sự chênh lệch đáng kể về kết quả nếu các DAO làm trầm trọng thêm xu hướng này?

Quá tải nhận thức

Có những giới hạn đối với mức độ mà bộ não con người có thể xử lý.

Số của Dunbar là giới hạn khét tiếng về số lượng mối quan hệ xã hội mà bộ não con người có thể quản lý, nhưng “số của DAObar” là phiên bản DAO của điều đó: một người có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào bao nhiêu DAO?

Mỗi lần tham gia DAO tiếp theo là một sự gia tăng sức mạnh xử lý cần thiết để duy trì bối cảnh và nhận thức về mọi thứ đang diễn ra.

Công cụ giao tiếp và cộng tác trong DAO (đã thảo luận ở trên) sẽ cố gắng giảm thiểu điều này, nhưng mọi người có thể phải vật lộn với tình trạng quá tải.

Mất kết nối

Một mặt, DAO cho phép mọi người chọn cách họ làm việc và liên kết với các cộng đồng nơi có giá trị phù hợp.

Mặt khác, bằng cách chuyển phần lớn công việc thành các đơn vị nguyên tử và khuyến khích tài chính thuần túy cho các hành động, chúng ta đối diện với nguy cơ làm giảm ý nghĩa của mọi người trước các phần thưởng tài chính. Chúng ta có nguy cơ biến công việc thành những nhiệm vụ rời rạc, vô nghĩa, trong đó lao động bị giảm xuống thành một dịch vụ hàng hóa.

********

Có một lời khuyên chung rằng tương lai đã ở đây, chỉ là nó không được phân phối đồng đều. Đó chắc chắn là trường hợp của các DAO và Future of work.

Mỗi ngày, ngày càng nhiều người tham gia DAO và sử dụng web3 toàn thời gian. Các DAO đang phát triển nhanh chóng và có nhu cầu rất lớn về nhân tài để giúp họ đạt được sứ mệnh của mình.

Cho dù đó là toàn thời gian hay bán thời gian, có nhiều cách để làm việc, học hỏi và tham gia. Future of work đang trỗi dậy và nó sẽ đi theo những hướng bất ngờ và hấp dẫn.

Tham khảo: http://future.a16z.com

Categories
All about Japan

Đại dịch COVID-19 thay đổi văn hóa làm việc tại Nhật Bản ra sao?

Đại dịch COVID-19 đang mang đến những phong cách làm việc mới cho người dân Nhật Bản, khi giờ đây làm việc từ xa, khung giờ làm việc xen kẽ, và thậm chí làm việc bốn ngày trong tuần có thể trở thành những chuẩn làm việc mới.

Mời bạn cùng Gambaru theo dõi sự thay đổi này.

Covid mang lại sự thay đổi trong phong cách làm việc ở Nhật Bản
Covid mang lại sự thay đổi trong phong cách làm việc ở Nhật Bản. Ảnh: Aleksandar Pasaric – Pexels

Sự lây lan của virus corona đã thúc đẩy các công ty tại Nhật lựa chọn làm việc từ xa, nhưng không phải mọi nhân viên đều muốn quay trở lại phong cách làm việc trước đây sau khi tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc đã được dỡ bỏ.

Cô Chihiro Oyama, 37 tuổi, nhân viên phụ trách phát triển nguồn nhân lực của NTT Data Corp ở Tokyo, cho biết: “Hiện giờ, tôi muốn được làm việc ở nhà 80%.”

Cô Oyama bắt đầu làm việc tại nhà lúc 7 giờ sáng cho đến trưa và dành phần còn lại của buổi chiều cho con. “Sau khi quen dần với lịch trình mới này, tôi đã có thể đạt được hiệu quả công việc như khi làm tại văn phòng”, cô chia sẻ.

Cô thường xuyên trao đổi email và trò chuyện trực tuyến nhưng“thật khó khi trao đổi công việc qua màn hình.”

Thay vào đó, cô cố gắng tích cực giao tiếp với đồng nghiệp vào những ngày lên công sở làm.

Người lao động đã được yêu cầu không đến văn phòng làm việc
Sau khi tình trạng khẩn cấp được ban bố vào đầu tháng 4, 2020, theo quy định chung, người lao động đã được yêu cầu không đến văn phòng làm việc. Ảnh: Kelly Sikkema – Unsplash

Từ tháng 6, công ty đưa ra chính sách là trên 50% nhân viên làm việc tại nhà và nhân viên làm tại văn phòng thì sẽ sắp xếp thời gian xen kẽ.

Anh Yuji Nomura, 39 tuổi, thuộc dự án phát triển trí tuệ nhân tạo tại NTT Data, bắt đầu đi làm muộn hơn thường lệ 30 phút.

Anh chia sẻ rằng khởi đầu ngày làm việc muộn hơn đã “giảm bớt căng thẳng” vì mình có thể tránh được đám đông trên các phương tiện giao thông công cộng.

Anh Nomura đang nghĩ đến việc làm việc ở nhà hai hoặc ba lần một tuần và điều chỉnh thời gian xen kẽ làm ở văn phòng trong tương lai.

Vào ngày 14 tháng 5, 2020, tuyên bố khẩn cấp được dỡ bỏ đối với hầu hết các khu vực tại Nhật Bản, Liên đoàn Doanh nghiệp Nhật Bản, hay Keidanren, đã kêu gọi các công ty thành viên xem xét áp dụng “các phong cách làm việc khác nhau” bao gồm làm việc từ xa, một tuần làm việc bốn ngày và giờ làm việc xen kẽ để giảm sự lây lan của virus, mong muốn biến những biện pháp này trở thành những thực tiễn lâu dài.

Tập đoàn Toshiba đã bắt đầu xem xét giới thiệu chính sách một tuần làm việc bốn ngày cho các văn phòng và nhà máy.

Các tập đoàn khác, như Hitachi Ltd.Mitsubishi Electric, cho biết họ sẽ tiếp tục áp dụng chính sách làm việc tại nhà cho khoảng 50% nhân viên trong thời điểm hiện tại.

BellFace Inc., có trụ sở tại Tokyo, công ty cung cấp hệ thống hội nghị trực tuyến cho doanh nghiệp, kết nối người dùng qua điện thoại thông minh hoặc điện thoại cố định, đã chứng kiến ​​sự gia tăng nhanh chóng đối với các dịch vụ của mình.

Trong 4 năm rưỡi kể từ khi được thành lập, số lượng công ty sử dụng hệ thống này đã tăng từ 1.300 lên hơn 10.000 vào tháng 3 và tháng 4 năm nay, khi BellFace tung ra một phiên bản miễn phí để giúp các công ty đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19.

Danh mục khách hàng của họ vẫn chủ yếu ở khu vực thủ đô Tokyo, nhưng lượng tiêu thụ tăng lên, đặc biệt là ở các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh như tỉnh Hokkaido, Osaka và Hyogo.

BellFace Inc. cho biết với dịch vụ này, tài liệu kinh doanh và danh thiếp có thể được chia sẻ trực tuyến.

Trong cuộc gọi giữa hai bên, đối tác ở đầu bên kia có thể xác định được vị trí của con chuột trên màn hình, giúp người dùng dễ dàng giải thích các tài liệu được chia sẻ.

Bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng sử dụng hệ thống mà không cần thao tác trước phức tạp, chẳng hạn khách hàng không bị bắt buộc phải chia sẻ link dẫn.

Tuy nhiên, nhiều người bày tỏ quan điểm rằng trở ngại lớn đối với việc đưa ra những cải cách làm việc từ xa như vậy là năng suất sẽ giảm khi nhân viên vắng mặt tại văn phòng.

Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Năng suất Nhật Bản, mặc dù hơn 60% số người muốn tiếp tục làm việc tại nhà sau khi đại dịch đã hạ nhiệt, song cũng có tỷ lệ phần trăm tương đương số người tham gia thừa nhận “hiệu quả công việc đã giảm sút”.

Nhiều ý kiến ​​lo ngại về các rào cản khác như chia sẻ dữ liệu quan trọng không thể xem bên ngoài nơi làm việc và các vấn đề về môi trường giao tiếp.

Các công ty có thể sẽ buộc phải quyết định xem có nên đầu tư vào việc nâng cấp thiết bị hay không.

Theo Kyodo News

Categories
Gambaru News

Làm việc từ xa: Xu hướng việc làm tương lai

Tiếp tục cập nhật về những tác động của đại dịch COVID-19 lên giới công nghệ hay kế hoạch remote work của các doanh nghiệp công nghệ trong năm nay, Gambaru mời bạn theo dõi những dự đoán về xu hướng làm việc nói chung trong tương lai.

Làm việc từ xa đã trở thành hiện thực sau đại dịch COVID-19
Làm việc từ xa đã trở thành hiện thực sau đại dịch COVID-19. Ảnh: Freepik

Tôi đang nhâm nhi ly cà phê tại một quán vỉa hè ở Belgrade, thủ đô Serbia.

Nơi đây đang ở giai đoạn hậu COVID, mọi người ra ngoài, ăn uống, cười đùa, và đáng ngạc nhiên là chẳng hề đeo khẩu trang.

Tôi nhớ về mùa hè hai năm trước ở đây.

Vào thời điểm đó, tôi nghĩ rằng những gì mình đang làm là vô cùng cấp tiến – một kẻ du mục kỹ thuật số làm việc toàn thời gian và chu du khắp thế giới.

Tôi đã tin rằng bản thân là bằng chứng cho thấy văn hóa văn phòng sẽ tuyệt chủng, và bị thống trị bởi làm việc từ xa.

Những người ủng hộ làm việc từ xa như tôi thay vì truyền cảm hứng cho mọi người rằng remote work chính là tương lai, chúng tôi lại đang chiến đấu theo một kiểu khác, một cuộc chiến chống lại đại dịch COVID toàn cầu và cuối cùng sẽ thuyết phục được giới tinh hoa công nghệ áp dụng hoàn toàn chính sách remote work.

Những gã khổng lồ bao gồm Facebook, Google, Coinbase, Twitter và 74% các công ty khác (như được tiết lộ trong một cuộc khảo sát gần đây của Gartner) đang lên kế hoạch thực hiện và duy trì làm việc từ xa trong năm nay.

Sự kiện mang tính bước ngoặt này giết chết văn hóa công sở và tất cả các bằng chứng cho thấy rằng remote work đang là hiện thực, buộc chúng ta đặt ra câu hỏi: “Tương lai thì sao?”

3 Dự đoán hàng đầu về việc làm tương lai

1. Công việc bạn làm không ràng buộc với bất kỳ công ty cụ thể nào

Một nghiên cứu của Gallup cho thấy sự linh hoạt là chìa khóa để giữ chân nhân viên. 53% nhân viên nói rằng sự cân bằng cuộc sống-công việc và hạnh phúc cá nhân là “rất quan trọng” đối với họ khi xem xét có nên nhận một công việc mới hay không.

Bước tiếp theo trong tính linh hoạt đó là các cách tiếp cận mới đối với việc làm như sự tham gia của nhân viên bán thời gian, freelancer và contractor làm việc theo dự án.

Sự linh hoạt là chìa khóa để giữ chân nhân viênSự linh hoạt là chìa khóa để giữ chân nhân viên
Sự linh hoạt là chìa khóa để giữ chân nhân viên. Ảnh: Johnson Wang – Unsplash

Đối với nhân viên bán thời gian, tùy chọn này cho phép họ có thể kiểm soát việc ưu tiên công việc bên cạnh những việc như chăm sóc sức khỏe, chăm lo cho con cái, cha mẹ hoặc đơn giản là có nhiều thời gian cá nhân hơn.

Đối với các công ty, điều này mang đến khả năng giữ chân nhân tài hàng đầu với các mục tiêu nghề nghiệp thay đổi và tạo ra thành công cho dự án với ít tài nguyên hơn.

Đối với nhân viên freelancer và contractor, việc có nhiều kênh để sử dụng chuyên môn của họ sẽ tăng tính linh hoạt trong công việc, giúp kích thích sự sáng tạo, mang lại nhiều quyền kiểm soát hơn và cơ hội khám phá những sở thích mới.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, làm việc từ xa mang lại nguồn chuyên môn bổ sung trong việc giải quyết các khó khăn kinh doanh, tạo môi trường chia sẻ kiến ​​thức về các vấn đề kinh doanh không nhạy cảm, không cần bảo mật đồng thời cho phép phản hồi và đổi mới từ việc đặt câu hỏi về các giả định cách vận hành doanh nghiệp.

2. Kết quả đầu ra có thể đến từ nhiều nguồn

Giống như việc nhân viên có thể lựa chọn làm việc cho nhiều công ty, doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc có nhiều người làm cùng một công việc.

Chia sẻ công việc (job-sharing, work-sharing) là một hệ thống trong đó một công việc trước đây thường do một người đảm nhiệm nay được phân chia giữa hai người, và điều này ngay lập tức mang đến nhiều lợi ích vì “hai cái đầu vẫn tốt hơn một”.

Có nhiều cách khác nhau để phân chia vai trò, dựa trên đam mê, thế mạnh, chuyên môn và kiến ​​thức cụ thể của nhân viên hoặc bằng cách tập trung vào việc kết hợp hai quan điểm đa chiều, chẳng hạn như các thành viên trong team đa thế hệ hoặc đa văn hóa.

Doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc có nhiều người làm cùng một công việc
Doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc có nhiều người làm cùng một công việc. Ảnh: Pixabay – Pexels

3. Công ty thuê người theo những cách độc đáo và mang lại lợi ích chung

Mô hình tuyển dụng và cơ cấu nhân viên của các công ty sẽ có nhiều thay đổi
Mô hình tuyển dụng và cơ cấu nhân viên của các công ty sẽ có nhiều thay đổi. Ảnh: Polina Zimmerman – Pexels

Cuối cùng, bước tiếp theo trong cuộc cách mạng này sẽ là đặt câu hỏi đối với các giả định về mô hình nhân viên toàn thời gian truyền thống và tìm các tùy chọn có lợi cho công ty và những người xây dựng chúng.

Trong tương lai, các công ty thành công nhất sẽ phát triển mô hình của họ để đón nhận nhiều người tham gia phát triển công việc nội bộ bao gồm nhân viên toàn thời gian, chuyên gia tư vấn, freelancer và nhân viên bán thời gian.

Tất nhiên, có những thứ cần thay đổi trong hệ thống hiện tại của chúng ta để hiện thực hóa tương lai này.

Một ví dụ đó là việc tách phúc lợi y tế khỏi chế độ làm việc, và dường như đây là một gánh nặng đặc trưng của người Mỹ.

Rộng hơn nữa là việc tái cơ cấu hỗ trợ của chính phủ đối với doanh nghiệp và các dịch vụ được cung cấp cho loại hình này.

Nếu có thể thực hiện các bước để tạo ra những thay đổi đó và khuyến khích nhiều nhóm làm việc toàn diện hơn, chúng ta có thể bắt đầu phong trào “Việc làm tương lai” tiếp theo và tôi hy vọng chúng ta không cần một thảm họa toàn cầu khác nữa để biến điều này thành hiện thực!

Theo Ali Greene