Tại hội nghị Ignite hôm 14/10, Microsoft đã công bố Defender Cloud Security Posture Management and Defender for DevOps, hai gói mới trong dịch vụ Defender for Cloud của công ty (trước đây là Azure Defender) dành cho quản lý phát triển phần mềm và bảo mật thời gian chạy (runtime) trên môi trường đa đám mây (multicloud) và nhiều pipeline.
Dịch vụ Defender for Cloud của Microsoft
Hiện đã có bản xem trước công khai, cả 2 cùng chạy với GitHub và Azure DevOps, với các tích hợp sản phẩm bổ sung.
CVP của Microsoft về bảo mật đám mây, Shawn Bice, cho biết Defender for DevOps và Defender Cloud Security Posture Management (gọi tắt là Defender CSPM) xuất phát từ những thách thức mà các công ty đối mặt khi sử dụng các dịch vụ cloud-native để triển khai và quản lý ứng dụng.
Những khách hàng này thường thiếu cái nhìn toàn diện và thiếu các biện pháp giảm thiểu thiệt hại được ưu tiên, khiến cho việc bảo mật mang tính phản ứng, thay vì chủ động.
Nói có sách mách có chứng.
Theo một báo cáo năm 2020 từ Orca Security, 59% nhóm an ninh mạng cho biết nhận được hơn 500 cảnh báo về bảo mật đám mây mỗi ngày – một phần lớn trong số đó là thông báo sai. Tool sprawl (tình trạng sử dụng quá nhiều công cụ) được cho là một thách thức trong việc duy trì bảo mật code.
Trả lời khảo sát của GitLab vào tháng 8, 41% các nhóm DevOps nói rằng họ đã sử dụng từ 6 đến 10 công cụ trong chuỗi công cụ phát triển của mình, khiến họ bỏ sót các vấn đề bảo mật.
Bice cho biết:
“Hành trình chuyển đổi đám mây tăng cường cho khách hàng của chúng tôi đã tạo ra nhu cầu cấp thiết về một giải pháp thống nhất nhằm quản lý bảo mật từ quá trình phát triển đến thời gian chạy trong môi trường đa đám mây và nhiều pipeline”.
Giao diện Microsoft Defender for Cloud
Vì vậy, Defender CSPM tận dụng các thuật toán AI để thực hiện phân tích rủi ro theo ngữ cảnh của môi trường phát triển phần mềm. Các đề xuất và thông tin chi tiết về kết quả được đưa vào các nền tảng quản lý mã nguồn như GitHub và Azure DevOps để thúc đẩy nỗ lực khắc phục; mặt khác, người dùng có thể tạo luồng công việc được kết nối với các đề xuất bảo mật để kích hoạt khắc phục tự động.
Defender CSPM cũng cung cấp “truy vấn tấn công” mà nhóm bảo mật có thể sử dụng để khám phá rủi ro và đe dọa dữ liệu, cũng như bảng điều khiển hiển thị tất cả các quy tắc được triển khai trên môi trường nhà phát triển và các công cụ cho phép quản trị viên bảo mật xác định các quy tắc mới.
Đối với Defender for DevOps, nó cho thấy sức mạnh an ninh tổng thể của các cấu hình tài nguyên và mã ứng dụng tiền sản xuất. Các nhóm bảo mật có thể sử dụng dịch vụ này để kích hoạt các mẫu và file container image được thiết kế để giảm thiểu khả năng xảy ra cấu hình sai đám mây trong môi trường production.
Bice giải thích:
“Tận dụng [thông tin phân tích] trong Defender for Cloud, quản trị viên bảo mật có thể giúp các nhà phát triển ưu tiên các bản vá code quan trọng và chỉ định quyền sở hữu của nhà phát triển bằng cách kích hoạt quy trình làm việc tùy chỉnh.
Với việc triển khai Defender CSPM và Defender for Cloud, rõ ràng là Microsoft đang tìm kiếm miếng bánh lớn hơn trong phân khúc DevSecOps khổng lồ và ngày càng phát triển.
Grand View Research ước tính rằng thị trường dành cho DevSecOps – bao gồm các công cụ tự động hóa các phương pháp bảo mật ở mọi bước phát triển phần mềm – trị giá 2,79 tỷ USD vào năm 2020.
Các công ty khởi nghiệp bao gồm Spectral, nhắm vào việc phát hiện các vấn đề bảo mật tiềm ẩn trong cơ sở mã và nhật ký, và Cycode, cung cấp các công cụ để bảo mật đường ống DevOps, có thể bị coi là đối thủ cạnh tranh. Nhưng quy mô của Microsoft – và thực tế là cả Defender CSPM và Defender for Cloud đều miễn phí cho khách hàng của Defender for Cloud trong thời gian xem trước – mang lại lợi thế lớn cho nó.
“Microsoft cam kết tăng cường bảo mật cho tất cả mọi người với tiêu chuẩn bảo mật đám mây toàn diện trên môi trường đa đám mây.”
Xem video buổi giới thiệu 2 gói này của dịch vụ Defender for Cloud
Mối quan hệ đối tác lớn nhất của Microsoft và Meta kể từ thời Windows Phone
Microsoft Teams trên Quest VR headset
Tưởng chừng Microsoft và Meta đã đối đầu nhau vào năm ngoái, sẵn sàng cạnh tranh gay gắt cho tương lai công việc (the future of work) trong metaverse.
Nhưng hôm nay, cả hai thông báo họ đang hợp tác về cách mọi người sẽ làm việc và thậm chí chơi game trong thực tế ảo.
Điều này bắt đầu bằng việc Microsoft đưa các dịch vụ lớn nhất của mình – Teams, Office, Windows và thậm chí cả Xbox Cloud Gaming – vào headset Quest VR của Meta.
Đây là một mối quan hệ hợp tác đầy bất ngờ, chứng kiến Microsoft và Meta kết hợp sức mạnh của họ. Microsoft nhận thấy cơ hội để mang Teams và các sản phẩm năng suất khác của họ vào một bộ headset VR đủ mạnh và Meta trở thành đối tác quan trọng trong kế hoạch metaverse lớn của mình.
Microsoft Teams trong VR
CEO Satya Nadella của Microsoft cho biết:
“Chúng tôi đang mang trải nghiệm họp nhập vai của Microsoft Teams vào Meta Quest nhằm cung cấp cho mọi người những cách thức mới để kết nối với nhau. Bạn có thể kết nối, chia sẻ, cộng tác như thể bạn đang trực tiếp cùng nhau.”
Trải nghiệm Teams trên headset Quest Pro mới và Quest 2 sẽ bao gồm hệ thống hình đại diện (avatar) cho Teams của Meta và Teams nhận được hỗ trợ trong Horizon Workrooms của chính Meta.
Giám đốc điều hành Meta, Mark Zuckerberg cho biết trong sự kiện này.
“Mọi người sẽ có thể tham gia cuộc họp Teams trực tiếp từ Workrooms. Chúng tôi nghĩ rằng trải nghiệm đa thiết bị, đa màn hình này sẽ là nền tảng của văn phòng ảo trong tương lai.”
Văn phòng ảo trong tương lai này sẽ không chỉ dành cho các cuộc họp. Microsoft đang đưa Windows 365 lên Quest, nền tảng truyền trực tuyến các phiên bản Windows đầy đủ tới các thiết bị.
Microsoft và Meta hợp tác về metaverse
Nadella nói:
“Với việc đưa Windows 365 vào Quest, bạn sẽ có cách thức mới để truyền trực tuyến an toàn toàn bộ trải nghiệm Windows, bao gồm tất cả các ứng dụng, nội dung và cài đặt được cá nhân hóa vào thiết bị VR của bạn với toàn bộ sức mạnh của Windows và các ứng dụng Windows”.
Microsoft cũng đang đưa các phiên bản 2D của ứng dụng Office của mình lên Quest thông qua công nghệ PWA (Progressive Web Apps).
Đây sẽ không phải phiên bản 3D hoàn chỉnh của Office được thiết kế cho VR, nhưng nếu có nhu cầu về VR trong doanh nghiệp, thì có thể dễ dàng hình dung Microsoft sẽ điều chỉnh chúng trong tương lai.
Xbox Cloud Gaming thậm chí sẽ tiếp cận với headset Quest VR của Meta, cho phép người đăng ký Xbox Game Pass Ultimate phát trực tuyến trò chơi.
Nó sẽ không sống động như trải nghiệm thực tế ảo gốc cho các game Xbox, nhưng bạn sẽ có thể cầm bộ điều khiển Xbox và chơi chúng trên một màn hình khổng lồ được chiếu bên trong headset Quest.
Xbox Cloud Gaming trên Quest
Cốt lõi ở đây là mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và bất thường này giữa Meta và Microsoft.
Mặc dù cặp đôi này đã hợp tác trong Teams cho các thiết bị Meta’s Portal và trên một số tích hợp cho SharePoint và Outlook, đây là mối quan hệ hợp tác lớn đầu tiên kể từ khi tích hợp sâu Facebook vào Windows Phone hơn một thập kỷ trước.
Microsoft dường như đang tự đặt cược vào future of work trong các tai nghe VR và AR, hay như cách Microsoft gọi chúng là thực tế hỗn hợp.
Microsoft trước đây đã thử nghiệm với tai nghe VR thực tế hỗn hợp Windows, nhưng họ không bao giờ sản xuất thiết bị của riêng mình và sản phẩm phần mềm còn mờ nhạt so với những tay chơi lâu đời hơn như Oculus (nay là Meta Quest) hay Valve và HTC.
Microsoft đã đầu tư nhiều hơn vào HoloLens, headset AR mà họ đã quảng cáo cho các doanh nghiệp như là tương lai của sự cộng tác (future of collaboration).
Alex Kipman, lãnh đạo nhóm Microsoft phát triển headset HoloLens của công ty và bộ điều khiển chuyển động Kinect, đã từ chức sau các cáo buộc lạm dụng bằng lời nói và quấy rối tình dục vào đầu năm nay. Điều đó khiến tương lai của HoloLens bị nghi ngờ, đặc biệt là khi có tin đồn cho thấy Microsoft đã loại bỏ kế hoạch cho HoloLens 3.
3D avatar của Microsoft Teams
Chúng tôi vẫn đang chờ xem hình đại diện 3D của Microsoft Teams. Hình ảnh: Microsoft
Điều đó khiến thời điểm hợp tác Meta của Microsoft trở nên đặc biệt hấp dẫn, khi Nadella cố gắng đưa Microsoft trở thành công ty phần mềm và công cụ năng suất cho thiết bị VR thay vì nhà sản xuất.
Nadella nói:
“Chúng tôi đang thực hiện một cách tiếp cận để đảm bảo rằng phần mềm của chúng tôi có thể mang lại lợi ích cho người dùng trên tất cả các thiết bị yêu thích của họ và đó là lý do tại sao tôi rất vui mừng về những gì chúng tôi công bố ngày hôm nay và cách chúng tôi tập hợp sức mạnh của nhiều người”
Meta hiện có một đồng minh quan trọng trong nỗ lực biến metaverse thành hiện thực, cũng như có những dấu hiệu rõ ràng rằng đây sẽ là một môi trường đầy thách thức để đi đúng hướng.
Meta đã cố gắng trong nhiều năm để tiếp cận khách hàng doanh nghiệp thông qua nền tảng Workplace của mình, nhưng qua việc hợp tác chặt chẽ hơn với Microsoft Teams trong VR, đó là sự thừa nhận thất bại rõ ràng khi nói đến tương lai của các ứng dụng cộng tác và năng suất tại nơi làm việc.
Microsoft’s Mesh work for Teams đặc biệt ấn tượng trong các cuộc họp ảo năm ngoái, vì vậy sẽ rất thú vị khi xem cách công ty đưa điều đó vào headset Quest của Meta.
Vẫn còn quá sớm cho mối quan hệ đối tác này, nhưng nhiều thông tin chi tiết hơn về chính xác thời điểm những trải nghiệm này sẽ được tiết lộ trong những tháng tiếp theo. Bạn có thể sẽ nghe nhiều hơn về Teams và có lẽ là avatar metaverse 3D của Microsoft khi công ty tổ chức hội nghị Ignite ở Seattle, nơi họ sẽ thảo luận về future of work, bảo mật,…
Việc tính toán những khoản phải trả cho nhân viên là một vấn đề phổ biến. Cụ thể, các startup thường xuyên vật lộn với việc trả lương thưởng vì họ cạnh tranh với các startup khác để tìm kiếm nhân tài.
Với Roger Lee, vấn đề liên tục xuất hiện khi anh đồng sáng lập Human Interest – nhà cung cấp 401(k), công ty đã đạt được vị thế kỳ lân vào tháng 8 năm 2021 và hiện nay có gần 700 nhân viên. (Lee không còn tham gia vào công việc hàng ngày của công ty này, mặc dù anh vẫn có chân trong hội đồng quản trị)
Lee nói:
“Việc tính toán lương thưởng cho nhân viên là một trong những nguồn gây khổ sở hàng đầu của chúng tôi. Chúng tôi sử dụng cái giống như 1,000 bảng tính để theo dõi và quyết định mức lương, cổ phần, tăng giảm lương, range lương và mức offer.”
“Khó mà có một cái nhìn tổng quan về lương thưởng nhân viên để đảm bảo rằng chúng ta đang trả lương cho mọi người một cách công bằng và cạnh tranh.”
Vì vậy, vào tháng 10 năm 2021, anh đã hợp tác với Teddy Sherrill – người bạn cũ ở Harvard để cho ra đời Comprehensive (Toàn diện) nhằm nỗ lực giải quyết vấn đề.
Hai nhà đồng sáng lập của Comprehensive
Công ty nổi như cồn, thông báo đã gọi được 6 triệu đô vòng hạt giống vào năm nay, được dẫn đầu bởi Inspired Capital và có cả sự tham gia của Floodgate, SV Angel cũng như những nhà sáng lập và giám đốc điều hành của Rippling, Wealthfront, Pilot.com, Thumbtack, Public.com và những bên khác.
Khách hàng mục tiêu của Comprehensive là startup, thế giới mà Lee quen thuộc, anh từng sở hữu 2 startup.
Có một vài startup đã nổi lên trong lĩnh vực này trong những năm gần đây.
Tháng 8, Complete đã công bố gọi được thêm 4 triệu đô la.
OpenComp có một sản phẩm tương tự hướng tới các công ty tăng trưởng cao đang tìm cách cải thiện việc tuyển dụng và giữ chân họ.
Compound được hậu thuẫn bởi Y-Combinator tìm cách giúp nhân viên công nghệ hiểu được mức lương thưởng của chính họ.
Lee hy vọng sẽ làm cho Comprehensive nổi bật so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách cung cấp dịch vụ của mình thật tốt, càng toàn diện càng tốt. Ví dụ: nó muốn giúp các công ty khởi nghiệp xử lý tất cả các khía cạnh của lương thưởng trong tổ chức của họ – ngoài tiền lương còn tư vấn về đánh giá lương thưởng, giao tiếp với nhân viên và phân tích lương.
Lee cho biết:
“Chế độ lương thưởng cho nhân viên hiện nay phức tạp hơn bao giờ hết, do xu hướng làm việc từ xa và lạm phát gần đây, cũng như sự chú trọng vào văn hoá DE&I (đa dạng và hoà nhập)”.
Ông lập luận rằng vấn đề vượt ra khỏi nguồn nhân lực với nhiều đội ngũ tham gia vào quy trình và dữ liệu nằm rải rác trên nhiều hệ thống. Lee hy vọng với Comprehensive, các công ty sẽ “có khả năng thấy được các thông tin liên quan đến lương thưởng ở một nơi duy nhất.”
Lee nói thêm:
“Khi dữ liệu tổng hợp tồn tại trong các hệ thống phân tầng, một công ty không thể thực sự đưa ra quyết định sáng suốt về lương thưởng. Chúng tôi đang cố thống nhất mọi dữ liệu.”
Giao diện của Comprehensive
Ông nhấn mạnh, Comprehensive không chỉ là việc tuyển dụng nhân viên mà còn là vấn đề giữ chân nhân viên. Lee ước tính rằng lương thưởng cho nhân viên thường chiếm 70-80% tổng chi phí của các công ty khởi nghiệp – đại diện cho khoản chi phí lớn nhất “cho đến nay”.
Lee nói:
“Hơn bao giờ hết, các công ty khởi nghiệp muốn biết rằng số tiền mà họ chi tiêu đang được sử dụng để thưởng và giữ chân những người đạt thành tích cao và không bị lãng phí”.
Comprehensive vận hành mô hình SaaS trong đó công ty tính phí dựa trên quy mô. Công ty có kế hoạch sử dụng vốn của mình để tăng trưởng và tiếp tục tuyển dụng.
Alexa von Tobel, người sáng lập và đối tác quản lý của Inspired Capital, tin rằng khi hệ thống công nghệ nhân sự “tiếp tục dịch chuyển sang đám mây, thì lương thưởng là một thách thức công nghệ khó khăn và phức tạp đã đến lúc cần đổi mới.”
“Về cơ bản, lương thưởng đã thay đổi trong năm qua và Comprehensive được sinh ra để đáp ứng thời điểm cụ thể này: ngày càng nhiều công ty làm việc từ xa với kỳ vọng lương thưởng chênh lệch, lạm phát tiền lương, nhu cầu công khai lương thưởng tăng lên và đánh giá chênh lệch lương, v.v.”.
Những năm qua, các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đã thực hiện nhiều dự án táo bạo, chẳng hạn như xây dựng những công trình chọc trời cao nhất thế giới hay thực hiện một sứ mệnh trên sao Hoả.
UAE dự định làm metaverse
Giờ đây, UAE đặt mục tiêu xa hơn, đó là trở thành nhà tiên phong trong thế giới ảo, bằng cách thiết lập văn phòng của Bộ Kinh tế trong metaverse.
Bộ trưởng Kinh tế – Abdulla bin Touq Al Marri cho biết, để khám phá cơ sở đó, những người có nhu cầu sẽ phải đeo kính thực tế ảo hoặc sử dụng các công cụ khác.
Họ sẽ thấy văn phòng kinh doanh với các công ty, thậm chí là sẵn sàng ký kết các thoả thuận song phương với chính phủ nước ngoài.
Những người đề xuất sáng kiến Metaverse khẳng định vũ trụ ảo là một thế giới trực tuyến. Nơi mà người dùng có thể chơi game, làm việc hay học tập như ở môi trường thực tế.
Phát biểu khai mạc trong Hội nghị Dubai Metaverse được tổ chức tại Bảo tàng Tương Lai, Bộ trưởng Kinh tế cho biết dự án đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Sự kiện thu hút sự góp mặt của nhiều đại điện đến từ các công ty công nghệ lớn, các doanh nhân và những nhà phát triển quan tâm đến tiềm năng của vũ trụ ảo – một mạng lưới không gian kỹ thuật số nhằm mục đích mở rộng thế giới vật chất.
“Trong vài năm qua, chúng tôi đã chứng kiến các khoản đầu tư, chúng tôi thấy các công ty chuyển đến và những thay đổi về chính sách như vấn đề về thị thực chẳng hạn,… chúng tôi nhận thấy được nhiều tài năng đã đến với đất nước, và chúng tôi đã đào tạo các nhân viên của mình để họ có thể hoà mình vào metaverse, sử dụng metaverse và tương tác với thế hệ Z sẽ tham gia vào thế giới này. Đây là nhóm đối tượng sẽ cần rất nhiều dịch vụ trong tương lai”.
Ông Abdulla bin Touq Al Marri cho rằng chính đại dịch COVID-19 đã khiến nhân loại gắn bó với thế giới trực tuyến nhiều hơn và góp phần đẩy nhanh xu hướng vũ trụ ảo.
Qua sáng kiến mới lần này, UAE hy vọng metaverse sẽ giúp họ tăng thêm 4 tỷ USD GDP hàng năm và tạo thêm 40.000 việc làm cho công dân vào năm 2030.
Trong nỗ lực trở thành 1 trong 10 nền kinh tế lớn của thế giới, Dubai muốn thu hút thêm 1000 công ty chuyên về blockchain và các công nghệ liên quan khác.
Tecton thông báo huy động được 100 triệu đô. Ảnh: ai-techpark.com
Machine Learning (máy học) có thể mang lại lợi thế cạnh tranh cho các công ty bằng cách sử dụng dữ liệu mà chúng thu thập – ví dụ: các hình mẫu mua hàng – giúp đưa ra các dự đoán ‘chấp cánh’ cho các sản phẩm tạo doanh thu (ví dụ: đề xuất mua hàng trên web thương mại điện tử).
Nhưng rất khó để bất kỳ nhân viên nào theo kịp – quản lý ít lại – khối lượng dữ liệu khổng lồ được tạo ra.
Điều đó đặt ra một vấn đề, các hệ thống AI có xu hướng đưa ra các dự đoán vượt trội khi chúng được cung cấp dữ liệu cập nhật từng phút. Các hệ thống không được đào tạo lại thường xuyên về dữ liệu mới có nguy cơ trở nên “cũ kỹ” và kém chính xác hơn theo thời gian.
May mắn thay, một hệ thống thực hành mới nổi có tên là “MLOps” hứa hẹn sẽ đơn giản hóa quá trình cung cấp dữ liệu cho hệ thống bằng cách loại bỏ bớt những rắc rối. Một trong những người đề xuất nó là Mike Del Balso, Giám đốc điều hành của Tecton.
Del Balso đồng sáng lập Tecton khi còn làm việc tại Uber khi công ty đang gặp khó khăn trong việc xây dựng và triển khai các mô hình học máy mới.
“Các mô hình được cung cấp các tính năng thời gian thực được tinh chỉnh cao có thể đưa ra các dự đoán chính xác hơn nhiều. Nhưng việc xây dựng các data pipeline (đường ống dữ liệu) để tạo ra các tính năng này rất khó, đòi hỏi nhân lực kỹ thuật dữ liệu đáng kể và có thể công thêm hàng tuần hoặc hàng tháng mới ước tính được thời gian hoàn thành”.
Del Balso là người từng dẫn dắt các nhóm machine learning mảng Quảng cáo tìm kiếm (search ads) tại Google – đã đồng ra mắt Tecton vào năm 2019 cùng với Jeremy Hermann và Kevin Stumpf, hai đồng nghiệp cũ ở Uber.
3 nhà sáng lập của Tecton. Ảnh: a16z.com
Khi ở Uber, bộ ba này đã tạo ra Michelangelo, một nền tảng AI mà Uber sử dụng nội bộ để tạo dự báo thị trường, tính toán ETA (Estimated Time of Arrival) và tự động phát hiện gian lận, cùng nhiều tình huống sử dụng khác.
Sự thành công của Michelangelo đã truyền cảm hứng cho Del Balso, Hermann và Stumpf tạo ra một phiên bản thương mại của công nghệ này, sau chính là Tecton. Các nhà đầu tư đã hết sức ấn tượng.
Điển hình là Tecton thông báo rằng họ đã huy động được 100 triệu đô trong vòng Series C, nâng tổng số tiền huy động được của công ty lên 160 triệu đô.
Vòng này do Kleiner Perkins dẫn đầu, với sự tham gia của Databricks, Snowflake, Andreessen Horowitz, Sequoia Capital, Bain Capital Ventures và Tiger Global. Del Balso cho biết công ty sẽ được sử dụng nguồn vốn mới mở rộng quy mô các đội kỹ thuật và tiếp thị của Tecton.
Đối tác của Kleiner Perkins, Bucky Moore cho biết.
“Chúng tôi mong phần mềm mà mình sử dụng ngày nay sẽ được cá nhân hóa và thông minh hơn. Mặc dù công nghệ máy học giúp điều này trở nên khả thi, nhưng nó vẫn còn xa thực tế vì cơ sở hạ tầng hỗ trợ rất khó xây dựng cho tất cả trừ các công ty tiên tiến nhất. Tecton giúp bất kỳ đội ngũ nào cũng có thể truy cập cơ sở hạ tầng này, cho phép họ xây dựng các ứng dụng học máy nhanh hơn. ”
Giao diện sử dụng Tecton
Ở cấp độ cao, Tecton tự động hóa quá trình xây dựng các tính năng bằng cách sử dụng các nguồn dữ liệu thời gian thực.
“Tính năng” (feature), trong học máy, là các biến độc lập riêng lẻ hoạt động giống như một đầu vào trong hệ thống AI. Hệ thống sử dụng các tính năng để đưa ra dự đoán của chúng.
Del Balso cho biết:
“[Tự động hóa] cho phép các công ty triển khai các mô hình học máy thời gian thực nhanh hơn nhiều với ít nỗ lực kỹ thuật dữ liệu (data engineering) hơn. Nó cũng cho phép các công ty đưa ra các dự đoán chính xác hơn. Điều này rồi lại chuyển thành kết quả cuối cùng được mong đợi, chẳng hạn như tăng tỷ lệ phát hiện gian lận hoặc cung cấp các đề xuất sản phẩm tốt hơn”.
Ngoài việc sắp xếp các data pipeline, Tecton có thể lưu trữ các giá trị tính năng trên các môi trường đào tạo và triển khai hệ thống AI.
Nền tảng này cũng có thể giám sát các data pipeline, tính toán độ trễ và chi phí xử lý cũng như truy xuất các tính năng trước đây để đào tạo các hệ thống trong sản xuất.
“Các trường hợp sử dụng điển hình cho Tecton là các ứng dụng học máy được lợi từ suy luận thời gian thực. Một số ví dụ bao gồm phát hiện gian lận, hệ thống giới thiệu, tìm kiếm, thẩm định bảo hiểm, cá nhân hóa và định giá theo thời gian thực. Nhiều mô hình học máy này hoạt động tốt hơn nhiều khi đưa ra dự đoán trong thời gian thực, sử dụng dữ liệu thời gian thực. Ví dụ: các mô hình phát hiện gian lận chính xác hơn đáng kể khi sử dụng dữ liệu về hành vi của người dùng chỉ vài giây trước đó, chẳng hạn như số lượng, kích thước và vị trí địa lý của các giao dịch ”.
Theo Cognilytica, thị trường toàn cầu cho nền tảng MLOps sẽ trị giá 4 tỷ đô vào năm 2025 – tăng từ 350 triệu đô la vào năm 2019. Tecton không phải là công ty khởi nghiệp duy nhất theo đuổi việc này. Các đối thủ bao gồm Comet, Weights & Biases, Iterative, InfuseAI, Arrikto và Continual là một vài cái tên.
Trên mặt trận cửa hàng tính năng, Tecton cạnh tranh với Rasgo và Molecula, cũng như các thương hiệu lâu đời hơn như Google và AWS.
Del Balso chỉ ra một số điểm có lợi cho Tecton, như quan hệ đối tác chiến lược và tích hợp với Databricks, Snowflake và Redis.
Tecton có hàng trăm người dùng tích cực – không có thông tin gì về khách hàng, ngoại trừ thực tế là cơ sở đã tăng gấp 5 lần trong năm qua – và Del Balso nói rằng tỷ suất lợi nhuận gộp (doanh thu thuần trừ giá vốn hàng bán) là trên 80%.
Doanh thu định kỳ hàng năm dường như đã tăng gấp ba lần từ năm 2021 đến năm 2022, nhưng Del Balso từ chối cung cấp số liệu công ty.
“Chúng tôi vẫn đang trong giai đoạn đầu của MLOps. Đây là một quá trình chuyển đổi khó khăn đối với doanh nghiệp. Nhóm các nhà khoa học dữ liệu của họ phải cư xử giống như các kỹ sư dữ liệu hơn và bắt đầu xây dựng mã chất lượng-sản xuất. Họ cần một bộ công cụ hoàn toàn mới để hỗ trợ quá trình chuyển đổi này và họ cần tích hợp các công cụ này vào các nền tảng máy học gắn kết. Hệ sinh thái của các công cụ MLOps vẫn còn phân mảnh cao, khiến các doanh nghiệp khó khăn hơn trong việc xây dựng các nền tảng máy học này. Đại dịch đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang trải nghiệm kỹ thuật số và cùng với đó là tầm quan trọng của việc triển khai ML hoạt động để tăng cường cho những trải nghiệm này. Chúng tôi tin rằng đại dịch là động lực thúc đẩy việc áp dụng các công cụ MLOps mới, bao gồm các cửa hàng tính năng và nền tảng tính năng. ”
Tecton có trụ sở tại San Francisco hiện có 80 nhân viên. Công ty có kế hoạch thuê khoảng 20 người trong vòng 6 tháng tới.
Starbucks công bố chương trình quà tặng chạy trên web3
Starbucks sẽ công bố sáng kiến web3 của mình, bao gồm NFT theo chủ đề cà phê, tại sự kiện Investor Day vào tháng tới.
Trước đó vào đầu năm, công ty đã công bố kế hoạch tham gia lĩnh vực web3, lưu ý rằng các NFT của họ sẽ không chỉ đóng vai trò là đồ sưu tầm kỹ thuật số mà sẽ cung cấp cho chủ sở hữu quyền truy cập vào nội dung độc quyền và một số đặc quyền khác.
Vào thời điểm đó, Starbucks đã tiết lộ thông tin chi tiết về bộ NFT đầu tiên của hãng sẽ trông như thế nào, các tính năng cụ thể mà họ sẽ cung cấp hoặc thậm chí là việc nó đang xây dựng trên blockchain nào. Được biết, đó có thể là multichain hoặc chuỗi bất khả tri (chain-agnostic), điều này gợi ý rằng kế hoạch vẫn chưa được hoàn thiện.
Nhìn chung, nhà bán lẻ cà phê này giữ kín tin tức web3 ở mức khá cao, chỉ giải thích đơn giản rằng họ tin tưởng các bộ sưu tập kỹ thuật số có thể tạo ra một hoạt động kinh doanh phù hợp với hệ thống cửa hàng của mình và sẽ được tiết lộ vào cuối năm 2022.
Trong khi một số công ty nhảy vào cuộc đua NFT mà không cần suy nghĩ nhiều về việc khoản đầu tư của họ sẽ phù hợp với các mục tiêu kinh doanh lớn hơn ra sao, thì Starbucks dường như đang thử một cách tiếp cận khác.
Họ coi các bộ sưu tập là biểu hiện của lòng trung thành khách hàng.
Công ty đã mời Adam Brotman, kiến trúc sư của hệ thống Đặt hàng & Thanh toán trên thiết bị di động và ứng dụng Starbucks làm cố vấn đặc biệt cho dự án.
Ứng dụng đặt hàng và thanh toán qua di động của Starbucks. Ảnh SiamPhone
Đặt hàng & Thanh toán qua di động là một trong những thành công lớn nhất của Starbucks, xét về mặt đổi mới công nghệ.
Công ty là một trong những công ty đầu tiên đưa ra khái niệm về ví kỹ thuật số, ngay cả trước khi Apple Pay trở nên phổ biến.
Và khi việc áp dụng thanh toán di động ngày càng phát triển, việc đặt hàng qua điện thoại di động của Starbucks cũng phát triển theo.
Trong quý vừa qua – Quý 3 tài chính của Starbucks – các đơn đặt hàng di động, giao hàng và lái xe kết hợp đã mang lại 72% doanh thu Starbucks tại Mỹ. Ngoài ra, doanh số đặt hàng trên thiết bị di động đã tăng lên mức cao kỷ lục 47%, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái, sau những thay đổi do COVID thúc đẩy trong hành vi của người tiêu dùng.
Người sáng lập Starbucks kiêm Giám đốc điều hành tạm thời Howard Schultz, người đã trở lại công ty vào tháng 4, đã giới thiệu sáng kiến web3 sắp ra mắt của mình trong hội nghị báo cáo tài chính với các nhà đầu tư.
CEO Startbucks giới thiệu sáng kiến web3
Schultz nói:
“Chúng tôi đang làm việc trên một sáng kiến kỹ thuật số mới rất thú vị, xây dựng trên nền tảng kỹ thuật số hàng đầu hiện có theo những cách thức mới đầy sáng tạo, tất cả đều tập trung vào cà phê và quan trọng nhất là lòng trung thành, mà chúng tôi sẽ tiết lộ tại Investor Day”.
Công ty trước đó đã công bố kế hoạch tổ chức Investor Day 2022 tại Seattle vào ngày 13 tháng 9 năm 2022.
Schultz tiếp tục…
“Chúng tôi tin rằng sáng kiến hỗ trợ web3 kỹ thuật số mới này sẽ cho phép chúng tôi xây dựng dựa trên mô hình Starbucks Rewards hiện tại với mức chi tiêu mạnh mẽ để kiếm sao (star) trong khi cũng giới thiệu các phương pháp mới để thu hút khách hàng về mặt cảm xúc, mở rộng cộng đồng kỹ thuật số, và cung cấp nhiều phần thưởng hơn, bao gồm cả những trải nghiệm độc nhất vô nhị mà bạn không thể có được ở bất kỳ nơi nào khác, việc tích hợp hệ sinh thái Starbucks Rewards kỹ thuật số của chúng tôi với các bộ sưu tập kỹ thuật số mang thương hiệu Starbucks vừa là phần thưởng, vừa là yếu tố xây dựng cộng đồng.
Điều này sẽ tạo ra một bộ hiệu ứng mạng lưới kỹ thuật số hoàn toàn mới sẽ thu hút khách hàng mới và bổ sung cho khách hàng hiện tại trong các cửa hàng bán lẻ nòng cốt của chúng tôi”.
Mặc dù các chi tiết vẫn chưa được làm rõ, nhưng cách tiếp cận ở đây nghe có vẻ thú vị – ít nhất là so với một số dự án NFT của công ty khác (một mức thấp phải thừa nhận). Trước đó, công ty đã không làm rõ rằng NFT sẽ được gắn trực tiếp với Starbucks Rewards.
Hiện tại, khách hàng kiếm được Sao khi mua hàng trong ứng dụng hoặc tại các cửa hàng Starbucks, sau đó có thể chuyển thành phần thưởng hữu hình – như đồ uống miễn phí.
Có vẻ như các NFT mới bây giờ sẽ được kết hợp vào một phần của chương trình khách hàng thân thiết này, bằng cách nào đó.
Starbucks công bố chương trình quà tặng chạy trên web3
Nếu khách hàng “kiếm” được những món đồ sưu tầm thông qua các giao dịch mua hàng ngày, có lẽ, điều đó sẽ có khả năng thu hút nhiều người hơn đến với hệ sinh thái web3.
Đây là một trong những thách thức mà lĩnh vực phải đối mặt ngày nay, nơi mà việc mua các tác phẩm nghệ thuật kỹ thuật số và đồ sưu tầm thường đi kèm với chi phí cao và các khoản phí khá lớn.
Hơn nữa, chương trình kỹ thuật số có thể cung cấp cho khách hàng lý do để quan tâm đến NFT, nếu phần thưởng và cái gọi là trải nghiệm “có một không hai” trở thành thứ thực sự đáng để kiếm. (Tất nhiên, điều đó vẫn còn phải xem.)
Tuy nhiên, có một số dấu hiệu cho thấy người tiêu dùng quan tâm đến những cách dễ dàng hơn để vào không gian web3.
Ví dụ:
Ứng dụng thưởng tiền điện tử Sweatcoin đã thành hit nhờ cách nó thưởng cho người dùng “Sweatcoins” cho mỗi 1.000 bước đi bộ.
Sweatcoin
Ứng dụng trong quý vừa qua đã đứng thứ 4 về lượt tải xuống toàn cầu và xếp thứ 6 về lượng người dùng tích cực hàng tháng trên danh sách “Ứng dụng đột phá hàng đầu” của data.ai – nghĩa là những ứng dụng có mức tăng trưởng tuyệt đối lớn nhất về lượt tải xuống trong quý.
Hiện cũng có rất nhiều trò chơi cung cấp mô hình chơi-để-kiếm, nhằm mục đích gắn kết một hoạt động thú vị như chơi game với tiền điện tử hoặc NFT.
Những điều này đã chứng kiến nhiều thành công trái chiều hơn khi một số game thủ phản đối ý tưởng này.
Trong hội nghị, Schultz cũng nhấn mạnh giá trị của việc phục vụ người tiêu dùng trẻ.
Mặc dù nhận xét của ông phản ánh nhiều hơn về nhu cầu của Thế hệ Z đối với đồ uống lạnh và cà phê espresso đá xay của Starbucks – thứ đã thúc đẩy doanh số bán hàng trong quý – chương trình khách hàng thân thiết dựa trên web3 có thể là một cách khác để thu hút người tiêu dùng trẻ tuổi đến với thương hiệu.
Schultz cho biết:
“Chúng tôi không muốn kinh doanh trong một doanh nghiệp mà cơ sở khách hàng của chúng tôi đang già đi và chúng tôi có ít liên quan hơn với những người trẻ tuổi ngày nay là thế hệ Z”
“Đối với tôi, tổ hợp đó rất mạnh mẽ và tỷ lệ gắn bó mà chúng tôi có với họ và lòng trung thành đang được xây dựng”
Starbucks đã công bố thu nhập cao trong quý, vượt qua kỳ vọng của Phố Wall bất chấp những thách thức kinh tế.
Công ty báo cáo doanh thu là 8,15 tỷ đô so với 8,11 đô dự kiến và thu nhập trên mỗi cổ phiếu điều chỉnh là 84 xu so với 75 xu dự kiến.
Làm thế nào các tổ chức có thể nắm bắt cơ hội “nhảy vào” future of work khi hiểu biết của họ về yếu tố con người là rất mờ nhạt?
Một khảo sát Xu hướng nguồn nhân lực toàn cầu năm 2020 cho thấy:
53% người được hỏi tin rằng khoảng từ ½ tới toàn bộ lực lượng lao động của họ sẽ cần thay đổi kỹ năng trong vòng 3 năm, nhưng 59% người được hỏi lại không có thông tin cần thiết để hành động.
Thậm chí, chỉ 17% tin rằng họ có thể dự đoán được các kỹ năng cần thiết.
Với chênh lệch to như cái hố này, làm thế nào các tổ chức có thể đầu tư tốt nhất vào việc phát triển nguồn nhân lực?
Tương lai công việc và sự hiểu biết về yếu tố con người. Ảnh: Roland Berger
Các tổ chức cần một lực lượng lao động có khả năng thích ứng và bền bỉ, nhưng nỗ lực của họ bị thách thức bởi sự thiếu rõ ràng về các kỹ năng — và khả năng — của lực lượng lao động đó.
Năm 2021, chúng tôi đã dự đoán nhiều tổ chức sẽ bắt đầu sử dụng các ứng dụng hỗ trợ biểu đồ kỹ năng (skill graph) để điều hướng sự giao thoa mới xảy ra giữa công việc và người lao động, khơi dậy sự tập trung đầu tư vào phát triển lực lượng lao động như là phương tiện chính để đạt được chiến lược nguồn nhân lực — và sau cùng là chiến lược kinh doanh.
Bản đồ tới tương lai: Skill Graph
Các tổ chức thường sử dụng các khung có cấu trúc (ví dụ: thư viện năng lực, kiến trúc công việc, sơ đồ tổ chức) để phân loại người lao động và công việc. Nhưng bản chất của các khuôn khổ này — phân cấp, tuyến tính và trừu tượng — quá rời rạc với công việc và nhân viên để theo kịp thực tế.
Ví dụ, sơ đồ tổ chức là một khung có cấu trúc được sử dụng để mô tả các mối quan hệ chính thức và hệ thống phân cấp, nhưng hiếm khi cung cấp bất kỳ điều gì có thể hành động được (actionable) về cách công việc được hoàn thành.
Thật vậy, các tổ chức là mạng lưới phức tạp và nhiều nơi hiện sử dụng ONA (phân tích mạng tổ chức – organizational network analysis) để hình dung các mối quan hệ và luồng giao tiếp của công việc hàng ngày — thường nhằm mang lại những hiểu biết và cơ hội có giá trị.
Những đổi mới tương tự cũng đang diễn ra trong phạm vi kỹ năng và năng lực của người lao động. Các tổ chức đang chuyển từ các khuôn khổ có cấu trúc sang các bản thể luận (onology) dựa trên mạng lưới, năng động hơn, vay mượn các khái niệm lý thuyết đồ thị tương tự làm nền tảng cho ONA để hiểu rõ hơn mạng lưới quan hệ phức tạp giữa các kỹ năng, năng lực, công việc và người lao động.
Nói tới biểu đồ kỹ năng, đó là bản đồ các kỹ năng và năng lực của một cá nhân hoặc lực lượng lao động. Tùy vào việc triển khai cụ thể, một skill graph có thể bao gồm:
Một bản vẽ trực quan mạng lưới các kỹ năng và năng lực hiện tại
Mối quan hệ giữa các kỹ năng và năng lực (ví dụ, những kỹ năng và năng lực xảy ra cùng nhau, là các thành phần hoặc điều kiện tiên quyết của những kỹ năng khác, hoặc có thể kết hợp để tạo ra các kết quả nhất định)
Mối quan hệ của các kỹ năng và năng lực với công việc, vai trò, nhân khẩu học, xu hướng bên ngoài (ví dụ: hệ sinh thái, ngành, kinh tế) và kết quả công việc
Mối quan hệ của kỹ năng với biểu đồ xã hội (như các động vật xã hội, con người sử dụng các kỹ năng và năng lực về mặt xã hội)
Xu hướng thay đổi theo thời gian
Skill Graph đơn giản
Skill Graph có thể được dùng để biểu diễn mối quan hệ giữa các kỹ năng
Skill graph đơn giản
Làm nổi bật các kỹ năng của 1 công việc nhất định (như nhân viên chuyển phát bằng xe đạp) và các điểm giao thoa tiềm năng với các công việc và vai trò khác.
Skill graph của 1 Bike Courier. Nguồn: Deloitte Consulting LLP, 2020
Skill graph của 1 Backend Developer, trình độ Middle. Click xem Skill graph
Skill graph của 1 DevOps Engineer trình độ Senior. Click xem Skill graph
Các ứng dụng hỗ trợ đồ thị kỹ năng (sử dụng máy học và AI) là một bước nhảy vọt so với các phương pháp lưu giữ kỹ năng và năng lực trước đây. Các ứng dụng này sẽ:
Phân tích các tập dữ liệu khác nhau từ hệ thống nhân sự hoặc công việc nội bộ và các nguồn bên ngoài (ví dụ: dữ liệu kinh tế, bảng công việc, dữ liệu ngành)
Khám phá thông tin độc lập với đầu vào của nhân viên, bao gồm cả việc hiểu dữ liệu phi cấu trúc
Xác định các kết nối ẩn (ví dụ: suy ra sự hiện diện của một kỹ năng dựa trên sự hiện diện của những kỹ năng khác)
Phát triển lực lượng lao động tập trung vào tương lai
Việc trực quan hoá sự tương tác năng động giữa công việc và người lao động có thể cung cấp hỗ trợ cần thiết cho các nỗ lực hoạch định nguồn nhân lực mang tính chiến lược.
Việc nhận diện các hình mẫu kỹ năng có thể giúp hướng dẫn các khoản đầu tư quan trọng. Hấp dẫn hơn nữa, những hình mẫu này có thể được sử dụng để báo hiệu những thay đổi tương lai trong chính công việc, thông tin thêm cho việc tiếp cận the furture of work của tổ chức.
Ví dụ: một công ty khai thác khoáng sản toàn cầu đang sử dụng nền tảng hỗ trợ skill graph và các công cụ liên quan khác để thu thập dữ liệu từ chính công việc và xác định kỹ năng của người lao động.
Đối với một số kỹ năng, những nhân viên có bộ kỹ năng tương tự được yêu cầu xác minh trình độ của các đồng nghiệp của họ.
Công ty sử dụng các công cụ này để cảm nhận những thay đổi trong các kỹ năng cần thiết, thông tin thêm cho các khoản đầu tư phát triển nguồn nhân lực và hướng dẫn lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân nhân viên.
Nhìn về phía trước
Các tổ chức có thể bắt đầu bằng cách xem xét cách tiếp cận tổng thể của họ đối với các kỹ năng và năng lực như một phần trong kiến trúc lực lượng lao động.
Làm thế nào để cả tổ chức và cá nhân hiểu được họ hiện có những kỹ năng và năng lực nào và họ sẽ cần gì trong tương lai?
Và họ nên đầu tư vào đâu để giúp đạt được những mục tiêu đó?
Các tổ chức nên tìm hiểu xem các ứng dụng hỗ trợ skill graph có thể đưa ra câu trả lời hữu ích cho những câu hỏi này như thế nào.
Để bắt đầu:
Tuyển chọn các nguồn lực phát triển sự nghiệp
Dữ liệu skill graph có thể cung cấp các đề xuất có tính theo quy định, được cá nhân hóa hơn cho từng nhân viên, bao gồm nêu bật nội dung hoặc kinh nghiệm phát triển được nhắm mục tiêu hoặc các cơ hội nghề nghiệp được đề xuất.
Thiết lập thị trường cơ hội thị trường tài năng
Các tổ chức có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hành trình phát triển và tính linh động của lực lượng lao động nội bộ bằng biểu đồ kỹ năng. Biểu đồ kỹ năng là trọng tâm của một số giải pháp trên thị trường tài năng.
Những công cụ này có thể kết hợp các kỹ năng và sở thích với các cơ hội và giúp các cá nhân hiểu rõ hơn về điểm mạnh hiện tại và con đường khả thi để đạt được nguyện vọng tương lai.
Tái hình dung việc hoạch định nguồn nhân lực
Dữ liệu skill graph có thể giúp các nhà lãnh đạo nhận ra các xu hướng trong việc thay đổi nhu cầu nguồn nhân lực.
Việc kết hợp dữ liệu kỹ năng với phân tích nhu cầu truyền thống có thể mang lại mức độ hiểu biết sâu hơn về cách thức hoàn thành công việc — và cách nó có thể được thực hiện trong tương lai.
KẾT
Skill Graph có thể thay đổi quan điểm của việc hoạch định nguồn nhân lực — sử dụng các nguồn dữ liệu khác nhau về công việc và lực lượng lao động để xác định tương lai tiềm năng và dẫn dắt sự hài hòa liên tục giữa chúng với nhau.
Case study rút ngắn thời gian tuyển dụng và cải thiện tỷ lệ giữ chân nhân viên
Cùng xem cách Gambaru giải quyết các vấn đề trong tuyển dụng nhân tài công nghệ (Tech talent) tại 1 một trong những đơn vị đầu tiên sử dụng dịch vụ của Gambaru bằng hướng tiếp cận độc đáo.
Doanh nghiệp được nhắc đến trong bài viết này là một tech-music cực kỳ thành công với hệ sinh thái âm nhạc tương tác (từ đây xin được gọi là Client A)
2 Vấn đề tuyển dụng tech talent (tài năng công nghệ) tại Client A
Giống như bao công ty công nghệ khác, Client A vẫn gặp vấn đề tương tự trong việc tuyển dụng và giữ chân nhân tài.
Vấn đề đầu tiên mà công ty gặp phải đó là thời gian tuyển dụng kéo dài cho 1 vị trí, thông thường để tìm được nhân sự cho 1 vị trí senior developer sẽ mất từ 2 tháng trở lên.
Mặc dù đã làm việc với nhiều dịch vụ tuyển dụng (hiring services) khác nhau nhưng nhìn chung về mặt thời gian vẫn chưa được giải quyết tốt hơn.
Tại sao điều này gây ảnh hưởng?
Lý do đơn giản là vì trong môi trường cạnh tranh (cấp độ quốc tế) mà mình đối mặt, Client A luôn cần nhân lực để tập trung liên tục và xuyên suốt vào việc phát triển và tăng cường chất lượng sản phẩm, vì vậy cứ hình dung việc thiếu nhân sự trong thời gian 2-3 tháng sẽ ảnh hưởng ra sao tới tiến độ, chất lượng của dự án / sản phẩm.
Vấn đề tiếp theo, chính là tỷ lệ giữ chân tại Client A không cao.
Lý do được xác định đến từ việc thiếu sự phù hợp văn hoá (culture-fit).
Dù được đánh giá là một công ty công nghệ năng động, tạo cảm hứng, thế nhưng do sử dụng các hunting service nên sự chú trọng đến yếu tố culture fit không ở mức cao, có những tech talent tuy chuyên môn tốt, giỏi nhưng rất tiếc không phù hợp về mặt văn hóa, và phải sớm chia tay trong tiếc nuối.
Giải quyết vấn đề tuyển dụng như thế nào?
Cơ duyên giữa Client A và Gambaru tình cờ đến từ việc Client A hiện đang sử dụng dịch vụ Offshore Lab của Gianty (công ty chủ quản của Gambaru).
Hai bên đi đến thống nhất về việc cung cấp dịch vụ nhân sự (như mọi dịch vụ khác), nhưng khác với trước đây, sự kết hợp lần này đề cao sự gắn bó, thấu hiểu nhu cầu, sản phẩm và văn hoá của Client A để giải quyết các vấn đề đã nêu bên trên.
Để đạt được mục tiêu này, Gambaru đã đưa ra 2 hướng tiếp cận dựa trên thế mạnh của mình:
Sử dụng nguồn lực có sẵn, các tính năng, và công cụ trên Gambaru để rút ngắn thời gian tuyển dụng: Talent Pool và Candidate Report
Tích hợp quy trình tuyển dụng của Gambaru vào quy trình tuyển dụng của Client A.
Cùng xem chi tiết của hướng tiếp cận đầu tiên.
1. Talent Pool và Candidate Report
Quy trình tuyển dụng chuẩn mực tại A trước giờ gồm các bước:
Screening: Bộ phận tuyển dụng tìm kiếm và xem xét hồ sơ ứng viên trước khi liên hệ tiền đánh giá
Interview: Ứng viên tham gia các buổi phỏng vấn
Case study: Ứng viên giải quyết ‘bài tập’ mà công ty đưa ra
Offer: Ứng viên đáp ứng yêu cầu về kỹ năng và kiến thức cho công việc, nhận được đề nghị tuyển dụng
Hire: Ứng viên được tuyển
Onboarding: Ứng viên thử việc tại doanh nghiệp
Client A mất đến 2 tháng cho bước Screening đến Offer
Sở dĩ thời gian tuyển dụng 1 vị trí developer thường phải mất 2 tháng là vì 2 lý do:
Để tuyển được 1 ứng viên làm việc lâu dài cho 1 vị trí, thì ở mỗi bước trong quá trình tuyển dụng, bộ phận tuyển dụng phải liên hệ, tiếp xúc, phỏng vấn nhiều ứng viên. Vì vậy làm cho thời gian cần bỏ ra để hoàn thành toàn bộ quá trình sẽ rất đáng kể.
Mỗi bước mà từng ứng viên trải qua thường sẽ tương đối lâu. Chẳng hạn, trước khi mời ứng viên đến phỏng vấn, phải mất thời gian để đọc ‘thủ công’ lần lượt từng CV ứng viên; tiền phỏng vấn qua điện thoại… hoặc sau khi phỏng vấn, ứng viên sẽ được giao 1 “Case Study” để giải quyết, quá trình chờ kết quả từ ứng viên cũng sẽ mất tối thiểu 3 ngày.
Lúc này, giải pháp mà Gambaru đem đến trong việc rút ngắn thời gian tuyển dụng nằm 2 yếu tố:
Talent Pool
Đầu tiên là tận dụng nguồn nhân tài công nghệ (Talent pool) có sẵn của Gambaru.
Gambaru Talent Pool là tập hợp các hồ sơ nhân sự trong lĩnh vực lập trình và thiết kế (2 lĩnh vực thế mạnh). Chúng tôi luôn liên tục bổ sung số lượng cũng như chất lượng, độ chi tiết của từng profile ứng viên để nhanh chóng cung cấp cho nhà tuyển dụng những lựa chọn khả thi nhất.
Nhờ đó, với mỗi vị trí mà đối tác cần tuyển, Gambaru dễ dàng đưa ra danh sách các ứng viên có năng lực, kỹ năng đáp ứng gần nhất với yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Dưới đây là 1 vài biểu đồ thống kế về Talent pool của Gambaru.
Số lượng ứng viên trong Talent Pool
Địa điểm phân bố trong Talent pool
Trình độ tiếng Anh trong Talent pool
Để mở rộng nguồn ứng viên sẵn có, Gambaru còn phối hợp với các đối tác đáng tin cậy khác để có được nguồn ứng viên dồi dào hơn.
Candidate Report
Khác với cách làm truyền thông, bộ phận tuyển dụng chỉ căn cứ theo CV của ứng viên và cuộc gọi tiền đánh giá để mời ứng viên tham gia phỏng vấn.
Cách làm này tương đối “thủ công” và mang tính “chủ quan”, dễ đưa đến việc đánh giá thiếu chính xác về sự phù hợp của ứng viên với công việc, làm lãng phí thời gian mà cả 2 bên dành ra cho buổi phỏng vấn sau đó.
Gambaru đề xuất một cách làm giúp giải quyết những quan ngại nêu trên.
Lúc này, mỗi tài liệu về ứng viên tiềm năng trước khi được gửi đến nhà tuyển dụng sẽ không chỉ có mỗi thông tin thường thấy trong CV ứng viên, mà bao gồm các thông tin hữu ích khác đối với nhà tuyển dụng.
Gambaru gọi tài liệu này là Candidate report (báo cáo về ứng viên). Báo cáo này bao gồm:
a. Matching Score (Điểm phù hợp)
Matching Score cho biết sự phù hợp giữa ứng viên với mô tả công việc của nhà tuyển dụng.
Matching Score của một bạn Front End Developer
Điểm số này được tính tự động dựa trên các yếu tố về kỹ năng (hard skill và soft skill), số năm kinh nghiệm của mỗi kỹ năng trong hồ sơ ứng viên và mô tả công việc của nhà tuyển dụng.
Điều cần lưu ý là trọng số tính toán giữa kỹ năng chính (primary skill) và kỹ năng phụ trợ (substitute skill) sẽ khác nhau. Việc thiếu một kỹ năng nào đó so với mô tả công việc cũng sẽ ảnh hưởng đến số điểm này.
Thông thường Gambaru sẽ đề xuất các hồ sơ có Matching Score từ 80% trở lên, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp đặc thù (từ 50%).
Giải thích một chút về các thông tin trong hình:
Exact Matching: Khớp chính xác các kỹ năng và kinh nghiệm giữa Mô tả công việc và hồ sơ ứng viên
Potential Substitute: Các kỹ năng và kinh nghiệm của ứng viên có thể thay thế cho Kỹ năng và kinh nghiệm mà Mô tả công việc cần nhưng ứng viên không đáp ứng chính xác.
Lacking Skills: Các kỹ năng và kinh nghiệm mà ứng viên không có, so với Mô tả công việc
Lưu ý bên lề:
Hiện tại, Gambaru hỗ trợ Nhà tuyển dụng tính năng kiểm tra MatchingScore miễn phí thông qua Skill Graph (Biểu đồ kỹ năng) của ứng viên.
Giới thiệu ngắn về Skill Graph:
Skill Graph là biểu đồ biểu diễn trực quan bộ kỹ năng (cứng và mềm) của ứng viên, skill graph được vẽ ra dựa trên công nghệ A.I được Gambaru ứng dụng.
Có thể coi Skill Graph như 1 hình vẽ thể hiện chính xác, cô đọng các thông tin trên CV thông thường của ứng viên. Với nó, nhà tuyển dụng dễ dàng hình dung sự bao quát về mặt kỹ năng của ứng viên chỉ bằng 1 cái liếc mắt.
Skill Graph hiện chỉ hoạt động trên các hồ sơ ứng viên thuộc Talent pool của Gambaru.
Thông tin cá nhân (tên, email, SĐT) của ứng viên không xuất hiện trên Skill Graph. Chỉ có nhà tuyển dụng chính thức sử dụng dịch vụ của Gambaru mới được tiếp cận nguồn ứng viên trong Talent pool. Bạn có thể đăng ký tại link này.
Dưới đây là một số hình ảnh skill graph giúp bạn dễ hình dung:
Skill graph của 1 Backend Developer, trình độ Middle
Đây chính là phần gây ấn tượng lớn đối với nhà tuyển dụng trong Candiate report.
Các ứng viên mà Gambaru đề xuất cho một vị trí nhất định sẽ thực hiện bài Code Assessment.
Kết quả, điểm số và các đánh giá từ Code Assessment sẽ được nhà tuyển dụng cân nhắc trước khi quyết định chuyển ứng viên sang bước tiếp theo: Phỏng vấn.
Client A cũng là một trong những khách hàng đầu tiên của Gambaru áp dụng Code Assessment vào tuyển dụng.
Code Assessment được thực hiện trên nền tảng HackerRank. Nó bao gồm 2 loại là bài Test và Phỏng vấn trực tiếp.
Sẽ có những vị trí chỉ phù hợp làm Test hoặc chỉ phù hợp Phỏng vấn, và một vài vị trí đặc thù đòi hỏi thực hiện cả 2 hình thức.
Điểm số bài Test trong Code Assessment của 1 ứng viên
Kết quả Interview trong Code Assessment của 1 ứng viên
Một bài Code Assessment sẽ được thiết kế dựa trên:
Vị trí cần tuyển
Mô tả công việc
Trình độ ứng viên.
Nhờ đó, bài đánh giá sẽ đi sâu hơn về mặt chuyên môn, câu hỏi hoặc bộ câu hỏi thể hiện rõ ràng yêu cầu và năng lực của 1 vị trí cụ thể, thay vì chung chung cho tất cả vị trí.
Ngoài ra, việc phỏng vấn trực tiếp ứng viên trong Code Assessment cũng có tác dụng hiểu rõ phần nào khả năng phù hợp với văn hoá công ty của ứng viên (culture Fit), một trong những yếu tố giúp cải thiện sự gắn bó, tỷ lệ giữ chân nhân viên. Người phỏng vấn cũng phải hiểu rõ cách làm việc, cách phát triển sản phẩm để từ đó lựa chọn ứng viên phù hợp.
Trên thực tế, Code Assessment có thể thay thế phần nào cho hình thức Live Code truyền thống trong tuyển dụng.
Trong 1 chia sẻ của mình, anh N. (Head of Technology) của Client A cho biết:
Code Assessment, ngoài việc cung cấp kết quả kiểm tra chính xác về năng lực của ứng viên, còn giúp việc tuyển dụng tiết kiệm rất nhiều thời gian, bởi thường thì việc để ứng viên thực hiện case study mà công ty đưa ra sẽ mất khoảng 3 ngày, trong khi đó nếu Code Assessment được thiết kế đúng, cũng mang lại giá trị tương tự, mà thời gian thì chưa đầy 1 giờ thực hiện.
Tích hợp chặt chẽ quy trình tuyển dụng
Đến đây, mong rằng bạn đã hiểu được việc rút ngắn thời gian tuyển dụng là hoàn toàn khả thi nhờ việc ứng dụng nhuần nhuyễn các nguồn lực có sẵn, các công cụ, công nghệ hỗ trợ của Gambaru vào hoạt động tuyển dụng.
Bên cạnh đó, hướng tiếp cận khác được xác định ngay từ đầu đó là phải tích hợp mượt mà quy trình tuyển dụng của Gambaru vào quy trình tuyển dụng của Client A.
Điều quan trọng ở đây là sự minh bạch giữa 2 bên về quy trình của mình, nhận ra và bỏ bớt các thủ tục, các bước không cần thiết, tránh sự chồng chéo giữa quy trình 2 bên.
Nhờ vậy, toàn bộ quá trình tuyển dụng vừa được rút ngắn, vừa có sự đồng bộ giữa 2 bên nên vận hành rất mượt mà.
Kết quả ban đầu
Trước & Sau việc tuyển dụng với Gambaru
Như đã nói trước đó, để tuyển được nhân sự cho một vị trí, doanh nghiệp này hiện đang mất khoảng 60 ngày, làm cho việc vận hành dự án / sản phẩm gặp không ít khó khăn. Nhưng sau sự hợp tác với Gambaru, đã có vị trí được tuyển chỉ trong 10-15 ngày từ khi nhận được yêu cầu cho đến khi ứng viên nhận được đề nghị tuyển dụng. Kết quả này rõ ràng đến từ những yếu tố đã nêu bên trên.
Khách hàng đánh giá rất cao tính hiệu quả và toàn diện của Candidate report, không chỉ cung cấp mỗi CV ứng viên như cách truyền thống, mà còn cung cấp nhiều khía cạnh, thông tin mà bất cứ nhà tuyển dụng nào cũng cần.
Dù chưa thể nói trước tỷ lệ giữ chân nhân viên sẽ được cải thiện hay không vì chỉ số này thường muốn tính toán phải có thời gian từ 6-12 tháng. Tuy nhiên khi đã xác định yếu tố chính ảnh hưởng tới chỉ số này là Culture Fit, thì việc đánh giá được yếu tố này khi thực hiện Code Assessment cũng cho thấy tính khả quan nhất định.
Trong khi nhiều doanh nghiệp tại Mỹ đang chật vật lôi kéo người lao động trở lại văn phòng, thì quốc hội Hà Lan đã thông qua luật xác lập quyền hợp pháp của làm việc tại nhà (Work from Home), đưa Hà Lan trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trân trọng sự linh hoạt trong luật pháp.
Hà Lan biến work from home thành quyền hợp pháp
Tuần trước, Hạ viện Hà Lan đã thông qua luật về vấn đề này. Quốc gia châu Âu này hiện cần chờ sự chấp thuận của Thượng viện.
Đạo luật đã được hạ viện của lưỡng viện Hà Lan thông qua hôm thứ Ba. Tuy nhiên, nó vẫn cần một cái gật đầu từ thượng viện Hà Lan trước khi “thông chốt”. Luật này buộc người sử dụng lao động phải xem xét các yêu cầu làm việc tại nhà của nhân viên miễn là ngành nghề của họ cho phép.
Hiện tại, các nhà tuyển dụng ở Hà Lan có thể từ chối mọi yêu cầu làm việc tại nhà của người lao động mà không cần đưa ra bất kỳ lý do gì. Theo luật mới, người sử dụng lao động phải xem xét tất cả các yêu cầu đó và đưa ra lý do thích hợp để từ chối.
Vào tháng trước, Scotland thông báo rằng công nhân khu vực công của họ sẽ có chế độ tuần làm việc 4 ngày, nhưng đổi lại sẽ bị cắt giảm lương.
Luật này sẽ được giới thiệu bởi Steven van Weyenberg, một thành viên của Đảng D-66 thân châu Âu và Senna Maatoug, một nhà lập pháp của Đảng Xanh. Hai người sẽ đệ trình đề xuất lên quốc hội trước khi quốc gia này bước vào kỳ nghỉ hè.
Weyenberg cho biết:
“Chúng tôi bật đèn xanh cho luật mới này nhờ sự hỗ trợ mà chúng tôi nhận được từ cả nhân viên và công đoàn người sử dụng lao động. Chúng tôi rất hy vọng nó sẽ được thông qua trước mùa hè.”
Maatoug của đảng GroenLinks, báo Wall Street Journal cho biết:
“Nó cho phép người lao động tìm thấy sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống tốt hơn và giảm thời gian dành cho việc đi lại”
Đối với các công ty Hà Lan, luật mới sẽ không gây tranh cãi. Theo Eurostat, với 14% lực lượng lao động đã làm việc từ xa 2 năm trước đại dịch, việc chấp nhận làm việc từ xa cao hơn nhiều ở các vùng đất thấp.
Đại dịch đã thúc đẩy sự thay đổi thái độ về công việc, nhiều người lao động đang tìm cách duy trì sự linh hoạt mà họ có được trong 2 năm qua. Nhưng với việc các công ty đang tìm cách đáp ứng nhu cầu gia tăng khi đại dịch rút đi, chủ đề này trở thành vấn đề ngày một phân cực.
Một số công ty như Tesla vẫn buộc nhân viên trở lại văn phòng.
Tháng trước, Giám đốc điều hành Tesla, Elon Musk, đã ra tối hậu thư yêu cầu nhân viên tại công ty quay lại văn phòng – hoặc nghỉ việc.
Nói gì thì nói, Elon Musk vẫn một mực kêu nhân viên quay lại văn phòng
Thủ đoạn lừa đảo thực hiện qua quảng cáo việc làm trên Linkedin
Hiếm có trường hợp tuyển dụng nào lại phản phệ ngoạn mục hơn của một kỹ sư cao cấp tại Axie Infinity, người ứng tuyển vào một công ty hư cấu đã đưa tới một trong những vụ hack lớn nhất của lĩnh vực tiền điện tử.
Tóm lược:
Tin tặc đã lừa một kỹ sư cấp cao tại Axie Infinity ứng tuyển một công ty hư cấu.
Kế hoạch này đã đưa đến thiệt hại 540 triệu đô tiền điện tử vào đầu năm nay.
Chi tiết về cách thức tấn công lần đầu được tiết lộ.
Giả mạo đề nghị việc làm lừa đảo tiền điện tử
Ronin, sidechain được liên kết với Ethereum làm nền tảng cho Axie Infinity (một game game chơi-để-kiếm), đã mất 540 triệu đô tiền điện tử cho một vụ khai thác vào tháng 3. Chính phủ Mỹ sau đó gắn vụ việc với nhóm tấn công Lazarus của Triều Tiên, chi tiết đầy đủ về cách thức hoạt động khai thác được thực hiện vẫn chưa được tiết lộ.
Giờ đây, Block có thể tiết lộ rằng một quảng cáo việc làm giả mạo chính là sự hủy hoại của Ronin.
Theo hai nhân vật có kiến thức trực tiếp về vấn đề, những người được giấu tên do tính chất nhạy cảm của vụ việc, một kỹ sư cấp cao của Axie Infinity đã bị lừa ứng tuyển tại một công ty mà trên thực tế, không tồn tại.
Axie Infinity rất lớn. Vào thời kỳ đỉnh cao, người lao động ở Đông Nam Á thậm chí có thể kiếm sống thông qua trò chơi kiếm tiền. Họ tự hào có 2,7 triệu người dùng tích cực hàng ngày và 214 triệu đô khối lượng giao dịch hàng tuần cho NFT trong trò chơi của mình vào tháng 11 năm ngoái – mặc dù cả hai con số kể từ đó đều giảm mạnh.
Đầu năm nay, nhân viên của nhà phát triển Axie Infinity Sky Mavis đã bị những người có ý định đại diện cho công ty giả mạo tiếp cận và khuyến khích nộp đơn ứng tuyển. Một nguồn tin cho biết thêm rằng các phương pháp này được thực hiện thông qua LinkedIn.
Sau nhiều vòng phỏng vấn, kỹ sư của Sky Mavis đã được mời làm việc với một gói lương thưởng cực kỳ hậu hĩnh.
Thủ đoạn lừa đảo thực hiện qua quảng cáo việc làm trên Linkedin
“Đề nghị” giả mạo được gửi dưới dạng tài liệu PDF mà kỹ sư đã tải xuống – cho phép phần mềm gián điệp xâm nhập vào hệ thống của Ronin. Từ đó, tin tặc có thể tấn công và chiếm đoạt 4 trong số 9 trình xác thực trên mạng Ronin – để lại họ chỉ 1 trình xác thực có toàn quyền kiểm soát.
Trong một bài đăng trên blog về vụ hack, được xuất bản ngày 27 tháng 4, Sky Mavis cho biết:
“Các nhân viên đang chịu các cuộc tấn công lừa đảo liên tục trên các kênh xã hội khác nhau và một nhân viên đã bị xâm phạm. Nhân viên này không còn làm việc tại Sky Mavis. Kẻ tấn công đã tận dụng quyền truy cập đó để thâm nhập vào cơ sở hạ tầng CNTT của Sky Mavis và giành quyền truy cập vào các nút xác thực”.
Trình xác thực thực hiện các chức năng khác nhau trong blockchain, bao gồm cả việc tạo các khối giao dịch và cập nhật dữ liệu. Ronin sử dụng một hệ thống được gọi là “bằng chứng quyền hạn” để ký kết các giao dịch, tập trung quyền lực vào tay của 9 tác nhân đáng tin cậy.
Một bài đăng trên blog vào tháng 4 về vụ việc từ công ty phân tích blockchain Elliptic giải thích:
“Tiền có thể được chuyển ra ngoài nếu 5 trong số 9 người xác nhận chấp thuận nó. Kẻ tấn công đã nắm giữ các khóa mật mã riêng của 5 trong số các trình xác nhận, đủ để đánh cắp các tập tin mật mã”.
Nhưng sau khi xâm nhập thành công vào hệ thống của Ronin thông qua quảng cáo việc làm giả mạo, các tin tặc chỉ có quyền kiểm soát 4 trong số 9 trình xác thực – có nghĩa là chúng cần một trình xác thực khác để kiểm soát.
Trong quá trình khám nghiệm, Sky Mavis tiết lộ rằng các tin tặc đã sử dụng Axie DAO (Tổ chức tự trị phi tập trung) – một nhóm được thành lập để hỗ trợ hệ sinh thái trò chơi – để hoàn thành vụ trộm. Sky Mavis đã yêu cầu DAO giúp đỡ để giải quyết lượng giao dịch lớn vào tháng 11 năm 2021.
Sky Mavis cho biết trong bài đăng trên blog.
“Axie DAO cho phép Sky Mavis trong danh sách thay mặt mình ký các giao dịch khác nhau. Điều này đã bị ngừng vào tháng 12 năm 2021, nhưng quyền truy cập vào danh sách cho phép đã không bị thu hồi. Khi kẻ tấn công có quyền truy cập vào hệ thống Sky Mavis, chúng có thể lấy được chữ ký từ trình xác thực Axie DAO.”
Một tháng sau vụ hack, Sky Mavis đã tăng số lượng nút xác thực của mình lên 11 và cho biết trên blog rằng mục tiêu dài hạn của họ là có hơn 100.
Sky Mavis từ chối bình luận về cách thức thực hiện vụ hack khi đạt được. LinkedIn đã không trả lời nhiều yêu cầu bình luận.
Đầu ngày hôm nay, ESET Research đã công bố một cuộc điều tra cho thấy Lazarus của Triều Tiên đã lạm dụng LinkedIn và WhatsApp bằng cách đóng giả làm nhà tuyển dụng để nhắm mục tiêu vào các nhà thầu quốc phòng và hàng không vũ trụ. Nhưng báo cáo không gắn kỹ thuật đó với vụ hack Sky Mavis.
Sky Mavis đã huy động được 150 triệu đô la trong một vòng gọi vốn do Binance dẫn đầu vào đầu tháng 4. Số tiền thu được sẽ được sử dụng cùng với quỹ riêng của công ty để hoàn trả cho người dùng bị ảnh hưởng bởi việc khai thác. Công ty gần đây cho biết họ sẽ bắt đầu trả lại tiền cho người dùng vào ngày 28 tháng 6. Sau khi đột ngột dừng hoạt động vào thời điểm xảy ra vụ hack, cầu nối Ethereum của Ronin cũng đã khởi động lại vào tuần trước.
Theo dữ liệu của The Block Research, tỷ lệ hack DeFi đã tăng nhanh chóng trong năm nay, lên đến 2 tỷ USD trong tổng số tiền bị mất, theo dữ liệu của The Block Research. Vào ngày 1 tháng 1, con số này đứng ở mức 760 triệu đô.